Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ tư 19/06/2019 22:06:58   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Khai mạc Diễn đàn chuyên đề quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL 
 Thủ tướng chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 53 năm 2019 
 Đăng ký tham gia các khóa học bồi dưỡng trung hạn năm 2019 
 Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2019 
 Giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Viện năm 2019 
 
  Các Tóm tắt kết quả NCKH  
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành thiết bị tạo nước ngọt từ nước biển bằng năng lượng mặt trời dùng cho sinh hoạt của quân và dân trên đảo. CN ĐT/DA: Ths. Đỗ Anh Tuấn

Tên đề tài: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành thiết bị tạo nước ngọt từ nước biển bằng năng lượng mặt trời dùng cho sinh hoạt của quân và dân trên đảo

-  Cơ quan thực hiện: Viện Thủy điện & Năng lượng Tái Tạo

-  Chủ nhiệm đề tài/dự án: Ths. Đỗ Anh Tuấn

- Thời gian thực hiện: 2010-2011

Mục tiêu đề tài/dự án: Thiết kế và chế tạo được thiết bị tạo nước ngọt từ nước biển bằng năng lượng mặt trời phục vụ dân sinh kinh tế vùng ven biển và Hải đảo.

 Mục tiêu cụ thể

- Thiết kế và chế tạo được thiết bị tạo được từ 4 đến 6 lít nước ngọt trong một ngày từ nước biển bằng năng lượng mặt trời, có tuổi thọ từ 7 đến 10 năm (không bao gồm hệ thống cấp nước mặn, bể chứa nước ngọt)

- Lắp đặt, vận hành hệ thống tạo nước ngọt ngoài thực tế

 Kết quả nghiên cứu chủ yếu

-  Tìm hiểu, thu thập tài liệu, khảo sát để lập báo cáo tổng quan về tiềm năng năng lượng mặt trời ở Việt Nam, hiện trạng phát triển và triển vọng thiết bị tạo nước ngọt ở Việt Nam;

-  Tìm hiểu được các cách chưng cất và khử mặn nước biển thành nước ngọt trên thế giới.

-  Nghiên cứu được nguyên lý của quá trình bốc hơi, từ đó đưa ra được các nguyên nhân gây tổn thất và đưa ra các biện pháp khắc phục như:

-  Giảm khoảng cách (H) từ mặt ngưng tụ đến mặt nước xuống mức tối ưu, để mặt ngưng tụ  nhận được tối đa phân tử hơi nước;

-  Khống chế được lượng nước ban đầu trong bể vừa đủ, tương đương với lượng nước bốc hơi trong ngày đêm, và chiều dày lớp nước đủ mỏng để lượng nước thừa đã được đun nóng vào cuối ngày còn lại trong khay là ít nhất, và muối chưa thể kết tinh, để hôm sau rửa và cho trôi chảy ra ngoài được dễ dàng;

-  Tấm kính ngưng tụ có cấu tạo dạng hộp không đáy, các thành hộp bao quanh cũng được làm bằng chất trong suốt để tăng thêm diện tích hứng nắng, nhằm thu các bức xạ chiếu nghiêng vào khay chứa nước. Chân thành hộp được đặt trong một rãnh để vừa thu những giọt nước ngọt bám trên thành, vừa thu nước mưa rơi bên ngoài thành hộp;

-  Bổ sung vào mặt dưới đáy bể một lượng chất tích nhiệt để tích trữ lượng nhiệt thừa khi nhiệt độ quá cao, năng lượng này được tái sử dụng vào những giờ không có nắng và ban đêm;

-  Mặt khác, thiết bị cần bổ sung thêm bộ phận thu hoàn toàn lượng nước mưa rơi trên mặt kính ngưng tụ. Do đó, khi trời không nắng nhưng có mưa, hoặc mưa phùn vẫn thu được nước sạch đáng kể. Nếu tính cho cả năm thì lượng nước mưa thu được sẽ lớn hơn rất nhiều lần so với lượng nước chưng cất (lượng nước mưa trung bình ở Việt Nam là 2.000ml/năm). Có nghĩa là trong một năm một thiết bị có diện tích hứng nắng là 1m2 ta có thể thu được xấp xỉ 2.000 lít nước mưa!

-  Nghiên cứu về kết cấu, vật liệu chịu ăn mòn nước biển mà không gây hại cho sức khỏe con người, đảm bảo tuổi thọ cao;

-  Thực tế sẽ lắp đặt tại hai địa điểm trong thực tế , và hiện tại mức nước ngọt thu được của đề tài là 3-4 l/ngày/mô đun.

Kết quả ứng dụng chuyển giao vào thực tế

Thực tế chúng tôi lắp đặt tại hai địa điểm và kết quả đã thu được là mức nước thu được trong mùa khô là 3-4 l/ngày/mô đun, với những ngày mưa lượng nước thu được lên đến 4-6l/ngày/mô đun. Kết quả ứng dụng được chuyển giao cho quân và dân trên đảo, vì vậy đã góp phần vào cung cấp nước ngọt cho quân và dân trên đảo đang thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất.

Hình 1: Hệ thống lắp đặt 50 mô đun tại đảo Cam Ranh – Khánh Hòa

 

 
 
Các bài liên quan
 Nghiên cứu nâng cao mức độ chính xác của việc áp dụng hệ thống SCADA để nâng cao hiệu quả quản lý công trình thủy lợi. CN ĐT/DA: PGS.TS. Nguyễn Thế Quảng (09/11/2011)
 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám vào việc giám sát tình hình, cảnh báo và dự báo về một số loại sâu bệnh chính hại lúa, phục vụ công tác phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ mùa màng. CN ĐT/DA: TSKH Nguyễn Đăng Vỹ (09/11/2011)
 Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin liên quan tới nước để phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. CN ĐT/DA: PGS.TS. Võ Khắc Trí (08/11/2011)
 Nghiên cứu các giải pháp huy động cộng đồng tham gia quản lý môi trường trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. CN ĐT/DA: ThS. Hoàng Thu Thủy (10/09/2011)
 Nghiên cứu cơ chế chính sách quản lý chất thải góp phần bảo vệ môi trường nông thôn. CN ĐT/DA: PGS.TS. Vũ Thị Thanh Hương (10/09/2011)
Thông báo
 Đăng ký tham gia các khóa học bồi dưỡng trung hạn năm 2019 [23/05/2019]
 Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2019 [26/04/2019]
 Giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Viện năm 2019 [24/04/2019]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 81
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 34,492,516
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR