Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ năm 19/07/2018 01:28:59   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Công bố quyết định chỉ định Ủy viên BCH Đảng bộ Viện nhiệm kỳ 2015-2020 
 Diễn tập điều hành xả lũ khẩn cấp hồ Hòa Bình và ứng phó đảm bảo an toàn hạ du 
 Thông tin Luận án Tiến sỹ Kỹ thuật (NCS. Đỗ Thế Quynh) 
 Họp Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở đề tài cấp Quốc gia ĐTĐL.CN-58/15 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 43 năm 2018 
 
  Hoạt động SXKD & Tiếp thị  
Mô hình ứng dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước phục vụ chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây thức ăn chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Hà Nam
 
 

Thực hiện chủ trương Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và Đề phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Hà Nam, UBND tỉnh Hà Nam đã quyết định triển khai xây dựng mô hình điểm chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ, ngô ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, phát triển chăn nuôi bò sữa tại xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

 

Đây là mô hình thí điểm chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Hà Nam và các tỉnh lân cận ở vùng ĐBSH khi triển khai áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ tưới tự động, tiết kiệm nước kết hợp với cải tạo, chỉnh trang hệ thống tiêu thoát nước và giao thông nội đồng đáp ứng nhu cầu canh tác cơ giới theo đúng định hướng của ngành nông nghiệp.

Dưới đây xin giới thiệu các thông tin chính về mô hình.

GIỚI THIỆU

Theo số liệu thống kê năm 2014, tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn Mộc Bắc là 438,35 ha, bao gồm 373,75 ha đất trồng cây hàng năm và 28,78 ha đất trồng cây lâu năm.

Trong những năm gần đây địa phương đã từng bước chuyển đổi (25 ha) vùng ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả sang sản xuất đa canh; quy hoạch và xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung theo Đề án phát triển đàn bò sữa của tỉnh (54,5 ha) và của công ty TNHH Friesland Campina Hà Nam (65,8 ha) ở vùng ngoài bãi sông Hồng. Tuy vậy, hiện vẫn còn khoảng 80÷100 ha ở trong đê Hữu Hồng có nhu cầu chuyển đổi sang cây trồng khác do gặp khó khăn về tưới.

Mặt khác, theo đề án phát triển bò sữa của tỉnh, Mộc Bắc là một trong hai xã được lựa chọn làm trung tâm bò sữa của tỉnh Hà Nam, với kế hoạch phát triển đàn bò trên địa bàn xã đến năm 2020 đạt 2.100 con bò sữa nên nhu cầu về cỏ làm thức ăn thô, xanh cho chăn nuôi bò sữa trong thời gian tới là rất lớn. Vì vậy, việc chuyển đổi các khu vực trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ, ngô phục vụ chăn nuôi bò sữa là phù hợp.

Khu vực xây dựng mô hình có diện tích 29,7 ha là một trong những khu vực có địa hình cao nhất trong xã, do vậy việc tưới thường gặp khó khăn, chi phí lớn do phải bơm nhiều cấp (nước tưới được lấy từ Sông Nhuệ, sông Duy Tiên qua trạm bơm Chợ Lương sau đó tiếp tục bơm 2 cấp nữa qua các trạm bơm Dỹ Phố và Gốc Gạo, xem Hình).

MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI ĐẤT TRỒNG LÚA KÉM HIỆU QUẢ SANG TRỒNG CỎ, NGÔ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI   BÒ SỮA

Loại cây trồng

Dựa trên điều kiện thực tiễn về khí hậu, thổ nhưỡng, đối tượng vật nuôi,... của địa phương và đặc tính của các giống cỏ phổ biến ở nước ta hiện nay việc lựa chọn loại cỏ VA-06 (Cỏ Voi lai – Varisme số 6) để trồng tại khu vực mô hình thí điểm là đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và năng suất cũng như chế độ dinh dưỡng phù hợp cho Bò sữa.

Thời vụ và đặc tính sinh trưởng của cây trồng

Giống cỏ VA-06: chu kỳ sinh trưởng của cỏ VA06 từ khi trồng đến thu hoạch lần đầu khoảng 80 ngày; sau đó khoảng 40-45 ngày/lứa.

Theo tính toán, tổng mức tưới yêu cầu tại mặt ruộng đối với cây cỏ VA06 cần Mmr = 4.819 (m3/ha/năm); khoảng cách giữa hai lần tưới trung bình khi không có mưa là 3-5 ngày/lần.

Cỏ VA06 là loại cây không chịu được ngập úng, do vậy hệ thống tiêu phải đảm bảo mưa đến đâu tiêu đến đó.

Giải pháp cải tạo hạ tầng đồng ruộng và hệ thống tưới tiêu

Yêu cầu chung

- Cung cấp đủ lượng nước, đúng thời điểm theo nhu cầu của cây trồng;

- Công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước tưới;

- Có khả năng tưới luân phiên, tự động luân chuyển giữa các khu để giảm thiểu công vận hành;

- Đảm bảo cơ giới hóa trong sản xuất;

- Đáp ứng được nhu cầu làm mô hình trình diễn, tham quan, học tập cho các địa phương có nhu cầu nhân rộng.

Sơ đồ công nghệ

Để đáp ứng các yêu cầu nêu trên, một giải pháp đồng bộ đã được thực hiện, bao gồm: cải tạo hệ thống tưới, tiêu và giao thông nội đồng. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này chỉ đề cập đến giải pháp công nghệ mới được áp dụng trong việc cải tạo hệ thống tưới, đáp ứng nhu cầu tưới tiên tiên, tiết kiệm nước, có khả năng tự động hóa một số khâu trong sản xuất. Sơ đồ công nghệ và đặc tính cơ bản của các thiết bị được sử dụng trong hệ thống như sau:

Thông số, tính năng kỹ thuật của một số thiết bị trong hệ thống như sau:

 

(1)     Nguồn nước tưới: sử dụng nguồn nước hiện tưới cho lúa (lấy từ Sông Nhuệ, sông Duy Tiên, bơm qua 2 cấp về vị trí trạm bơm đầu mối của hệ thống tưới phun mưa);

 

(2)     Máy bơm:

- Máy bơm chính: Q=200 m3/h; cột nước bơm h=70m; công suất 55 Kw.

- Máy bơm tăng áp: Q=15 m3/h; cột nước bơm h=70m; công suất 11Kw.

- Biến tần: 3P/380V/55kW đảm bảo điện áp ổn định cho máy bơm và tiết kiệm năng lượng.

(3) Hệ thống lọc đĩa bán tự động (3” 120MESH), có tổng lưu lượng 200 m3/h.

(4) Bộ châm phân (2”) dùng để hòa trộn phân bón vào nước tưới.

(5) Van điện từ 24VAC -2” với 2 chế độ hoạt động.

- Tưới tự động: thông qua bộ điều khiển tự động và hệ thống cáp điều khiển

- Tưới thủ công: đáp ứng theo nhu cầu tưới từng vị trí.

- Cáp điều khiển: truyền tín hiệu từ bộ điều khiển trung tâm đến hệ thống van.

(6), (7) Đường ống: HDPE, f25-225; tổng chiều dài đường ống 27.125m;

(8) Vòi phun: Meganet, lưu lượng 550l/h.

-   Lưu lượng: 550 l/h

-   Áp lực đầu vòi: 2,5 ÷3 bar

-   Cường độ phun mưa: 5,8 mm/h

-   Bố trí vòi phun: (8,5x12) m

Bên cạnh đó, để tự động hóa công tác tưới, máy bơm và hệ thống van điện từ được nối với bộ điều khiển Smartline 12 zone, tích hợp 2 kiểu chương trình:

-   Chế độ chuẩn: Người sử dụng có thể chỉ định thời gian và khu vực tưới.

-   Chế độ tự động: Điều chỉnh theo thời tiết sẽ ghi chồng lên thời gian khu vực tưới mà người sử dụng đã cài đặt và tính toán thời gian tưới dựa trên vị trí, dữ liệu đầu vào.


Vận hành

Toàn bộ khu tưới được chia thành các ô tưới có diện tích trung bình 1 ha/ô. Trong mỗi đợt tưới sẽ vận hành đồng thời 3 ô/lượt với thời gian khoảng 1,5h/lượt; sau đó, hệ thống tự động chuyển sang lượt tiếp theo cho đến khi toàn bộ khu tưới được tưới theo một chu trình do người quản lý thiết đặt. Trong trường hợp đang tưới mà gặp mưa, bộ điều khiển trung tâm sẽ nhận tín hiệu từ cảm biến mưa được lắp đặt ở khu tưới để ra lệnh ngừng máy bơm. Khi cần tưới tại vị trí, thời gian,... khác với thiết đặt thì có thể chuyển sang chế độ vận hành thủ công.

Hiệu quả

 

-        Hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng: theo tính toán dựa trên cơ sở hiện trạng sản xuất và giá cả tháng 12/2014, việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò sữa có thể gia tăng lợi nhuận trung bình khoảng 8,4 lần (Trung tâm PIM, 2014).

 

- Các chỉ tiêu kinh tế của dự án: Mặc dù là mô hình trình diễn kỹ thuật, công nghệ nên các hạng mục thiết bị được lắp đặt đầy đủ nhất, đảm bảo hệ thống hoạt động tự động; đáp ứng sản xuất cơ giới trên đồng ruộng; dễ bảo vệ; chất lượng thiết bị tiêu chuẩn cao (nhập khẩu từ Israel, ống HDPE) nhưng theo phân tích hiệu quả kinh tế cho thấy mô hình vẫn cho hiệu quả kinh tế rất tốt, với các chỉ số: IRR=25,91%; B/C=2,54 và thời gian hoàn vốn là 5 năm.

 

KẾT LUẬN

 

-   Mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước phục vụ chuyển đổi diện tích sản xuất lúa năng suất thấp, khó khăn về nước tưới sang trồng cỏ, ngô phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa là hướng đi phù hợp với định hướng Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Bộ NN&PTNT và thực tiễn địa phương, góp phần nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp của người dân.

 

-   Áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đã cho phép tiết kiệm đáng kể nước tưới và tự động nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và sử dụng tài nguyên nước bền vững.

 

-   Hiệu quả của mô hình sẽ là cơ sở thực tiễn có giá trị cho việc nhân rộng mô hình cho nhiều địa phương điều kiện tương tự, với nhiều loại cây trồng khác như cây ăn quả, hoa mầu, vườn ươm,…

Để giảm thiểu giá thành đầu tư cần có chính sách khuyến khích người dân mở rộng quy mô diện tích đầu tư.

 ThS. Nguyễn Xuân Thịnh, ThS. Uông Huy Hiệp
Trung tâm PIM

 
 
Các bài liên quan
 Thiết bị tập thể dục tích hợp lọc nước hồ (09/09/2016)
 Giới thiệu cấu trúc hệ thống cảnh báo lũ lụt theo thời gian thực (30/05/2016)
 Nghiên cứu chế tạo bơm ly tâm hút xa 200m phục vụ nuôi trồng thủy sản ven biển (11/04/2016)
 Mảng bê tông liên kết gài tự chèn ba chiều lắp ghép dùng cho các công trình kè bảo vệ bờ sông, bờ biển (19/11/2015)
 Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật của bê tông tự lèn (SCC) khi ứng dụng cho đập xà lan di động (26/03/2015)
Thông báo
 Bảo vệ luận án TSKT cấp Viện (NCS. Vũ Ngọc Bình) [21/06/2018]
 Bảo vệ luận án TSKT cấp Viện (NCS. Nguyễn Thị Kim Dung) [24/05/2018]
 Tuyển sinh Chương trình đào tạo Thạc sĩ quốc tế chuyên ngành “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước” (IWRM-SEA) và “Quản lý tài nguyên thiên nhiên” (NRM-SEA) [18/04/2018]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 44
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 28,614,964
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR