TextBody
Huy chương 2

Hội thảo công nghệ cừ thép cán nóng trong xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi và phòng chống thiên tai

22/09/2026

Toàn cảnh Hội thảo

Sáng ngày 21/9/2026 tại Hà Nội, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam phối hợp với Tập đoàn thép JinXi – Trung Quốc tổ chức Hội thảo công nghệ cừ thép cán nóng trong xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi và phòng chống thiên tai.

TS. Phạm Văn Ban - Phó Trưởng Ban phụ trách Ban Khoa học và Hợp tác Quốc tế tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu tham dự Hội thảo

Tham dự Hội thảo có đại diện các Cục, Vụ thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường,  đại diện các địa phương và các Chi cục Thủy lợi thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, đại diện Ban Quản lý Dự án Thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh… Về phía Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam có GS.TS. Trần Đình Hòa – Giám đốc Viện; PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng – Phó Giám đốc Viện; PGS.TS. Đặng Hoàng Thanh – Phó Giám đốc Viện, lãnh đạo Ban Tham mưu, các đơn vị trực thuộc, nhà khoa học và cán bộ chuyên môn của Viện

Hội thảo do GS.TS. Trần Đình Hòa – Giám đốc Viện; PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng – Phó Giám đốc Viện và Ông Hàn Á Khôn - Tập đoàn thép JinXi (Trung Quốc) đồng chủ trì.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng - Phó Giám đốc Viện nhấn mạnh: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc liệt, các công trình hạ tầng thủy lợi và phòng chống thiên tai tại Việt Nam đòi hỏi phải có quy mô và mức đảm bảo an toàn cao hơn, kiên cố và bền vững hơn và đáp ứng yêu cầu phục vụ đa mục tiêu. Do đó, việc ứng dụng các vật liệu và kết cấu mới có khả năng chịu lực cao, tuổi thọ và độ bền cao tuy có chi phí ban đầu cao hơn so với các vật liệu truyền thống nhưng chi phí vòng đời (LCC) thấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến thi công nhanh hơn và ít phải giải phóng mặt bằng… đang là nhu cầu cấp thiết.

PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng đánh giá cao các ưu điểm vượt trội của cừ thép cán nóng như có thể sản xuất với chiều dài nguyên thanh lớn lên tới 18m – 24m hoặc hơn với khả năng chịu uốn cao, giảm thiểu tối đa việc phải hàn nối cừ tại hiện trường, thi công nhanh ngay trong mùa lũ/triều cường, độ bền cao, có thể tái sử dụng từ 5 đến 10 lần giúp tối ưu chi phí, có dung tích lưu kho nhỏ, có thể thi công ngay trên sà lan nổi giữa lòng sông một cách gọn gàng, đồng thời hạn chế tối đa việc đào đắp, nạo vét làm đục dòng chảy và xáo trộn hệ sinh thái thủy sinh, hạn chế thu hồi đất, tái định Tuy nhiên, để ứng dụng hiệu quả công nghệ này vào thực tiễn tại Việt Nam cần phải được nghiên cứu và đánh giá một cách bài bản và toàn diện hơn.

PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng cho biết Hội thảo là diễn đàn giới thiệu công nghệ, tạo ra không gian trao đổi, đối thoại đa chiều giữa các nhà thiết kế, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công, cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học - công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp nhằm làm rõ những cơ hội, thách thức và điều kiện cần thiết để công nghệ cừ thép cán nóng có thể được ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam.

Thay mặt Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, GS.TS. Trần Đình Hòa - Giám đốc Viện đã bày tỏ lời cảm ơn trân trọng tới Tập đoàn thép JinXi – Trung Quốc đã cùng đồng hành và hỗ trợ Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam tổ chức hội thảo.

Đánh giá về vai trò của công nghệ mới, GS.TS. Trần Đình Hòa nhấn mạnh ý nghĩa và tính cấp thiết của việc ứng dụng cừ thép cán nóng nói riêng cùng các loại cừ nói chung đối với sự ổn định của các công trình thủy lợi, hệ thống hạ tầng và công tác phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

GS.TS. Trần Đình Hòa cho biết: Để công nghệ này được áp dụng thành công và hiệu quả, ba yếu tố cốt lõi cần đảm bảo bao gồm: đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất, giá thành hợp lý và tính bền vững, ổn định trong quá trình vận hành lâu dài. Khi đáp ứng trọn vẹn các yêu cầu trên, công nghệ cừ thép cán nóng hứa hẹn sẽ được nhân rộng rộng rãi, mang lại giá trị thiết thực cho ngành thủy lợi trong nước.

GS.TS. Trần Đình Hòa kỳ vọng hội thảo sẽ là cầu nối hiệu quả để lan tỏa công nghệ. Thông qua các báo cáo, thông tin và giải pháp kỹ thuật sẽ được truyền tải sâu rộng tới các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thiết kế, tư vấn, thi công cũng như các đối tác trên toàn quốc, góp phần hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của hạ tầng thủy lợi Việt Nam trong thời gian tới.

Báo cáo về ứng dụng công nghệ cừ thép trong xây dựng công trình thủy lợi thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam, TS. Đinh Xuân Trọng - Viện Thủy công cho biết: Việt Nam có mạng lưới sông biển rộng lớn nhưng đang đối mặt với sạt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư và phát triển kinh tế xã hội. Năm 2024 thiên tai trên phạm vi cả nước làm 122,88 km bờ sông, bờ biển bị sạt lở, hư hỏng; Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận 604 vị trí sạt lở bờ sông bờ biển với tổng chiều dài hơn 891 km; Đồng bằng sông Hồng xảy ra 10-20 vụ sạt lở /năm. Đồng thời, hệ thống đê điều (9.739 km) và hồ đập (7.315 hồ) được xây 30–50 năm trước cũng đang xuống cấp trầm trọng.

Trong bối cảnh các giải pháp truyền thống như kè đá hay cọc bê tông bộc lộ hạn chế do trọng lượng lớn dễ gây lún sụt thứ cấp, cừ ván thép với trọng lượng nhẹ, khả năng chịu lực cao chính là giải pháp thay thế hiệu quả.

Chia sẻ về tính ưu việt của cừ ván thép, TS. Đinh Xuân Trọng đã làm rõ tính linh hoạt của cừ ván thép như một kết cấu đa chức năng: vừa chắn giữ đất, chắn nước, kiểm soát dòng thấm, chống xói chân/xói bờ, vừa phục vụ gia cường nâng cấp công trình và thi công tạm. Thực tế ứng dụng tại Việt Nam cho thấy cừ thép đã phát huy hiệu quả vượt trội tại nhiều công trình trọng điểm như: xử lý thấm đập đất hồ Kéo Coi (Thái Nguyên); chống thấm nền và vai cống tại Cống Cầu Xe (Hải Phòng), Cống Cái Lớn (An Giang), Đập dâng Sông Hiếu (Quảng Trị), Cống Bông Bót (Trà Vinh); làm khung vây thi công cống Trà Tân (Đồng Tháp), cống Nguyễn Tất Thành (An Giang); hay làm bờ kè tường đứng tiết kiệm mặt bằng tại Kênh Tân Hóa - Lò Gốm (TP.HCM).

TS. Đinh Xuân Trọng cho rằng để áp dụng rộng rãi ở Việt Nam cần hoàn thiện các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và định mức; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, và nội địa hóa thiết bị thi công. Do vậy TS. Đinh Xuân Trọng đã đưa ra một số đề xuất hợp tác như thiết lập quan hệ hợp tác, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ ứng dụng cừ thép cán nóng trong công trình thủy lợi, công trình phòng chống thiên tai; Triển khai các công trình mẫu (kè, đê, đập) tại ĐBSCL hoặc ĐBSH sử dụng vật liệu cừ cán nóng và phương pháp hạ cừ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam; Hỗ trợ trong việc đào tạo sử dụng phần mềm tính toán tường cừ ván thép tối ưu, kỹ thuật thiết kế, thi công trong điều kiện vùng địa chất yếu ở Việt Nam.

Tiếp tục làm rõ ứng dụng chuyên sâu của công nghệ, TS. Đặng Văn Kiên - Viện Thủy công đã trình bày báo cáo về "Công nghệ press-in trong bảo vệ công trình mái dốc tại Việt Nam"  cho biết các giải pháp truyền thống như tường chắn bê tông cốt thép, đinh đất, neo đất hay rọ đá đòi hỏi mặt bằng thi công rộng, khối lượng đào mở móng lớn và chi phí giải phóng mặt bằng cao. Trái lại, công nghệ ép cừ Press-in (như công nghệ Press-in GIKEN) kết hợp cọc ống thép hoặc cừ ván thép bản lớn mang lại giải pháp đột phá với nhiều ưu điểm như thi công không gây rung động, tiếng ồn thấp, không ảnh hưởng đến các công trình liền kề; Thiết bị nhỏ gọn, di chuyển linh hoạt trên đỉnh cừ, không cần mở rộng mặt bằng hay hành lang thi công, thi công ngay trong điều kiện không gian chật hẹp hoặc trên sà lan; Cọc ống thép có thể cắm sâu từ 10m đến 30m vào lớp đất tốt, chịu lực uốn/cắt lớn, giúp chống trượt sâu hiệu quả; Thi công nhanh chóng, giảm tối đa lượng đất đào thải và tiết kiệm đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng.Để đưa công nghệ cừ thép cán nóng và công nghệ Press-in trở thành giải pháp chuẩn trong bảo vệ mái dốc và công trình thủy lợi tại Việt Nam, TS. Đặng Văn Kiên kiến nghị xây dựng tiêu chuẩn thiết kế, thi công và nhất là hướng dẫn thi công chuyên sâu cho điều kiện địa chất Việt Nam; Đề xuất triển khai thí điểm cho vùng có nguy cơ cao như Đà Lạt, Hà Giang, Sapa; Nghiên cứu cừ lai thép-bê tông cốt thép tận dụng ưu thế của từng loại để đảm bảo phát triển bền vững, giảm giá thành.

Tiếp nối các báo cáo từ phía Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đại diện Tập đoàn thép JinXi (Trung Quốc), ông Hàn Á Khôn, đã trình bày chuyên đề "Ứng dụng cọc ván thép cán nóng và thép hình trong công trình thủy lợi và kỹ thuật hạ tầng". Sản phẩm cừ thép chữ U, Z của JinXi đạt tiêu chuẩn quốc tế, có khả năng chịu lực, chống thấm vượt trội nhờ khóa liên kết Larsen và thi công ép tĩnh nhanh chóng, thân thiện với môi trường. Giải pháp này đã khẳng định hiệu quả qua hàng loạt dự án lớn như kè bờ sông Tô Châu, tường chống thấm đê sông Trường Giang hay các công trình đê quây biển khắt khe tại hầm Thái Hồ, tuyến Thâm - Trung.

Đánh giá cao tiềm năng tại Việt Nam với hệ thống sông ngòi dày đặc và nền đất yếu đặc trưng, Tập đoàn JinXi đề xuất hợp tác chiến lược với Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo mô hình kết hợp năng lực sản xuất của Trung Quốc, năng lực nghiên cứu của Việt Nam và thực tiễn thi công địa phương. Lộ trình gồm ba giai đoạn: từ cung cấp sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật dự án; tiến tới phối hợp nghiên cứu, thử nghiệm công trình mẫu và xây dựng tiêu chuẩn; hướng tới hợp tác dài hạn để nội địa hóa công nghệ. Hội thảo mở ra cơ hội hợp tác thiết thực, góp phần hiện đại hóa hạ tầng thủy lợi và nâng cao năng lực ứng phó thiên tai tại Việt Nam.

Bổ sung và làm rõ cho các giải pháp, báo cáo "Ứng dụng của Cọc cừ thép trong Công trình kết cấu Vĩnh cửu" do đại diện Tập đoàn JinXi (Công ty Tân Tây Vũ Phi Thượng Hải) trình bày đã cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc tính kỹ thuật và phạm vi ứng dụng của cọc cừ thép. Với ưu điểm thi công nhanh, giảm diện tích giải phóng mặt bằng, không bùn thải và chịu tải trọng lớn, cọc cừ thép đang là giải pháp vĩnh cửu hàng đầu cho công trình thủy lợi, cảng biển và không gian ngầm. Báo cáo cũng chi tiết hóa các mô hình kết cấu, quy trình thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế và công nghệ ép tĩnh thủy lực không rung chấn, được chứng minh hiệu quả qua các dự án lớn tại Trung Quốc như Dự án âu tàu Xin Xiagang (Giang Âm) – âu tàu đầu tiên tại châu Á sử dụng hoàn toàn cọc cừ thép; Dự án kè sinh thái sông Tô Châu (Thượng Hải); Dự án nạo vét mở rộng sông Tân Câu (Thường Châu); Dự án cải tạo tường chống lũ Bắc Ngoại Than (Thượng Hải) sử dụng máy ép tĩnh hạ cừ siêu dài 30m; cùng hàng loạt dự án kè bảo vệ đê điều, nâng cấp tuyến luồng tại Giang Tô, Thượng Hải và Hắc Long Giang.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận, trao đổi sâu sắc về tính khả thi và tiềm năng áp dụng công nghệ cừ thép cán nóng trong lĩnh vực thủy lợi, phòng chống thiên tai tại Việt Nam. Bên cạnh việc đánh giá cao các ưu điểm vượt trội của giải pháp, các đại biểu cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng để lựa chọn đối tượng, hạng mục công trình phù hợp dựa trên các điều kiện cụ thể về địa chất, thủy văn, độ chênh cột nước và mặt bằng thi công…

Trong thảo luận, các bên cũng đưa ra phân tích, so sánh trực tiếp giữa cừ ván thép và cừ bê tông dự ứng lực (dạng tấm phẳng và gợn sóng sử dụng kết nối mộng ngàm); phía đối tác Trung Quốc cam kết sẽ cung cấp thêm hồ sơ, dự án điển hình thực tế nhằm làm rõ luận chứng thiết kế cho từng phương án.

Đặc biệt, đại diện phía Trung Quốc khẳng định sẽ cung cấp hoàn toàn miễn phí các phần mềm AI tính toán, điều khiển thiết bị thi công, đồng thời sẽ thành lập Trung tâm dịch vụ kỹ thuật, bảo hành và đào tạo tại Việt Nam.

Phát biểu kết luận và bế mạc Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng – Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đánh giá cao chất lượng các báo cáo chuyên sâu cùng những ý kiến trao đổi, thảo luận quý báu của các đại biểu và chuyên gia. Tổng kết lại các nội dung chính, Phó Giám đốc Viện nhấn mạnh giải pháp cừ thép cán nóng có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong lĩnh vực thủy lợi và phòng chống thiên tai tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc áp dụng cần tiếp tục được đánh giá, nghiên cứu kỹ lưỡng để lựa chọn đúng hạng mục và đối tượng công trình phù hợp. Đánh giá cao năng lực toàn diện của Tập đoàn Thép JinXi từ khâu cung ứng vật liệu, giải pháp kỹ thuật cho đến kinh nghiệm thi công thực tiễn, PGS.TS. Nguyễn Thanh Bằng cho biết điều kiện then chốt để đưa công nghệ này vào Việt Nam là phải khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và bộ định mức đơn giá...

Ý kiến góp ý: