Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 93 năm 2025
02/02/2026THỂ LỆ VIẾT BÀIBài viết phải đảm bảo chưa công bố, đăng tải trên các Báo, Tạp chí, độ dài không quá 10 trang, được đánh máy vi tính theo phông Times New Roman, cỡ chữ 12, in trên khổ A4 kèm theo file hoặc gửi qua Email. Bài viết sử dụng tiếng Việt, kèm theo tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt và tiếng Anh (không quá 200 từ). Công thức được viết theo Equation Editor và đánh số thứ tự về bên phải. Các bản vẽ phải đúng quy định vẽ kỹ thuật, kích thước không quá 15 x 20cm. Các bài có bản đồ từng vùng hoặc cả nước cần vẽ theo mẫu chính xác, đúng theo quy cách hiện hành, các bản vẽ, biểu bảng phải đánh số thứ tự. Thứ tự sắp xếp bài báo: - Tên bài báo - Họ và tên tác giả, học hàm, học vị, cơ quan công tác - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Việt). - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Anh) - Nội dung bài báo. - Tài liệu tham khảo: đặt liền với bài và ghi thứ tự, số thứ tự được đặt trong [ ]. Trích dẫn tên đề tài công bố. |

Trang | Tên bài báo | Tác giả | Tóm tắt |
2 | Giải pháp khoa học công nghệ và quản lý cải thiện nước tưới hệ thống thủy lợi sông Nhuệ - sông Đáy
| Trần Hưng Đỗ Ngọc Ánh Vũ Đức Quang | Nguồn nước tưới của hệ thống thủy lợi (HTTL) sông Nhuệ-sông Đáy bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bài báo nêu tóm tắt giải pháp khoa học công nghệ xử lý ô nhiễm nguồn nước thải, giải pháp quản lý cải thiện chất lượng nước và giải pháp công nghệ thông tin quản lý nguồn thải cho vùng nghiên cứu. Từ khóa: Nguồn thải, khoa học công nghệ, quản lý. |
9 | Đánh giá hiện trạng và dự báo chất lượng nước trong hệ thống thủy lợi Tứ giác Long xuyên: Tiếp cận mô hình hóa và viễn thám
| Phạm Văn Tùng
| Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu tích hợp giữa quan trắc thực địa, viễn thám và mô hình hóa để đánh giá hiện trạng và dự báo chất lượng nước mặt trong hệ thống công trình thủy lợi vùng Tứ Giác Long Xuyên (TGLX), khu vực có vai trò trọng yếu trong sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bối cảnh khai thác thượng nguồn sông Mê Công, biến đổi khí hậu, gia tăng xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước từ sản xuất nông nghiệp và xả thải sinh hoạt đang làm suy giảm chất lượng nước mặt, việc xây dựng hệ thống giám sát – dự báo chất lượng nước theo thời gian thực là cấp thiết. Nghiên cứu tiến hành thu thập, phân tích 126 mẫu nước tại 14 điểm quan trắc cố định từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2024 với 12 thông số môi trường, tính toán chỉ số WQI, đồng thời sử dụng mô hình MIKE 11 để dự báo các thông số DO, BOD5, NH4+ và độ mặn. Kết quả cho thấy chất lượng nước tại nhiều vị trí ở mức trung bình đến tốt nhưng có xu hướng suy giảm vào cuối mùa khô, đặc biệt ở khu vực ven biển và hạ lưu. Mô hình MIKE 11 được hiệu chỉnh và kiểm định có độ tin cậy cao (R2 > 0.7), cho thấy tiềm năng trong ứng dụng dự báo chất lượng nguồn nước. Ngoài ra nghiên cứu này đã sử dụng ảnh vệ tinh Sentinel-1 và Sentinel-2 cho phép đánh giá mùa vụ và biến động thảm thực vật, từ đó hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa canh tác nông nghiệp và chất lượng nước. Trên cơ sở đó đề xuất tăng cường ứng dụng công nghệ mô hình hóa – viễn thám, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp vận hành công trình thủy lợi giữa các địa phương để ứng phó hiệu quả với thách thức nguồn nước trong vùng TGLX. Từ khóa: Chất lượng nước, Tứ Giác Long Xuyên, mô hình MIKE 11, viễn thám, WQI, dự báo chất lượng nước |
21 | Ứng dụng IOT trong quản lý nước mặt ruộng phục vụ canh tác lúa vụ xuân năm 2025 tại xã Tam Đa, tỉnh Bắc Ninh
| Lê Xuân Quang, Nguyễn Tiếp Tân, Nguyễn Thị Kim Dung, Trương Thái Đức Dương, Hà Đình Minh Nguyễn Đăng Nghĩa Nguyễn Xuân Lâm
| Ứng dụng IoT trong quản lý nước mặt ruộng được triển khai thực nghiệm tại mô hình có quy mô 10 ha tại xã Tam Đa, tỉnh Bắc Ninh. Thí nghiệm được triển khai vụ xuân năm 2025; các cảm biến khí tượng (mưa, nhiệt, ẩm, áp, bức xạ mặt trời, tốc độ gió), cảm biến đo mực nước, hệ thống tưới được kết nối thông minh IoT trong quản lý vận hành hệ thống tưới. Kết quả hoạt động của hệ thống tưới lượng nước tưới ổn định; lượng nước tưới dưỡng cho lúa vụ xuân từ 1.640 ÷ 2.358 m³/ha, so sánh với lượng nước tưới dưỡng theo TCVN 8641 là 4500 m³/ha, lượng nước tiết kiệm từ 64,9 ÷ 68,3%. Năng suất lúa khu thí nghiệm đạt trung bình 8,79 tấn/ha cao hơn trung bình khu vực khoảng 17%. Bài báo là một phần kết quả nghiên cứu thuộc đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu chế tạo cảm, tích hợp công nghệ, thiết bị và kết nối thông minh để nâng cao hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng", thực hiện từ năm 2023-2025, do PGS.TS. Lê Xuân Quang làm chủ nhiệm. Từ khóa: Kỹ thuật tưới khô ướt xen kẽ, ứng dụng IoT trong quản lý nước mặt ruộng |
29 | Ứng dụng chuỗi thời gian ảnh Sentinel-1 Sar và học máy trong quản lý thủy lợi: lập bản đồ lúa và xác định thời kỳ sinh trưởng phục vụ tính toán nhu cầu nước THEO FAO-56
| Nguyễn Quốc Hiệp, Nguyễn Anh Hùng, Nguyễn Văn Kim, Đoàn Anh Hoàng
| Cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về diện tích và thời kỳ sinh trưởng của cây lúa là yếu tố then chốt để quản lý hệ thống thủy lợi hiệu quả, đặc biệt trong việc tính toán nhu cầu nước tưới theo các mô hình chuẩn như FAO-56. Nghiên cứu này ứng dụng chuỗi thời gian ảnh viễn thám Sentinel-1 SAR (phân cực VV và VH), kết hợp với thuật toán Mạng nơ-ron tích chập (CNN) và phương pháp Phân tích theo chuỗi thời gian dựa trên hiện tượng học để lập bản đồ lúa và xác định thời điểm gieo cấy (khởi đầu mùa vụ) tại khu tưới Cửa Đạt, tỉnh Thanh Hóa. Phương pháp chính bao gồm việc tính toán Chỉ số nước SAR (SWI) và gán giá trị trung bình của SWI, VV, VH cho từng khoanh giải thửa (parcel-based) để tăng độ chính xác và giảm tải tính toán ở cấp độ quản lý. Mô hình CNN tối ưu được xây dựng với ba kênh đầu vào (VV, VH, SWI) đạt độ chính xác phân loại tổng thể (Overall Accuracy) là 85.56% và F1-score là 85.50%. Kết quả cho thấy việc bổ sung chỉ số SWI giúp cải thiện đáng kể hiệu suất mô hình. Phương pháp phân tích chuỗi thời gian đã được sử dụng để xác định thời điểm gieo cấy chính xác cho từng giải thửa (dựa trên ngưỡng SWI >= -0.05), từ đó cung cấp dữ liệu đầu vào (diện tích lúa và ngày gieo cấy/giai đoạn sinh trưởng) cho hệ thống tính toán nhu cầu sử dụng nước theo FAO-56. Từ khóa: Sentinel-1, SAR, CNN, FAO-56, SWI, lúa, tưới tiêu, viễn thám. |
40 | Nguyên nhân và giải pháp sửa chữa bể tiêu năng cho đập Thác Huống
| Thái Quốc Hiền, Bùi Mạnh Duy
| Hiện nay các công trình thủy lợi, đặc biệt là các công trình đầu mối trong hệ thống thủy lợi sau thời gian làm việc đã bắt đầu hư hỏng cần sửa chữa nâng cấp và một trong các công trình đó là đập Thác Huống thuộc hệ thống thủy lợi Thác Huống. Nghiên cứu giải pháp sửa chữa toàn diện bể tiêu năng phù hợp với điều kiện hiện trạng, địa hình địa chất nhằm đảm bảo ổn định tổng thể đập, ổn định kết cấu và đảm bảo tiêu năng thoát lũ trong đó cao trình đỉnh và kết cấu bể được xác định sao cho dòng chảy khi qua mặt tràn hiện trạng xuống bể tạo ra trạng thái chảy ngập, đồng thời nước nhảy ngay tại bể. Giải pháp kết cấu bể được lựa chọn sao cho chuyển tiếp trạng thái dòng chảy phù hợp từ chân đập dâng xuống bể được thuận; kết hợp với tường phân dòng dọc theo bể để tách ảnh hưởng của dòng chảy do sông cong gây ra. Từ khóa: Bể tiêu năng, tường phân dòng, mực nước hạ lưu. |
47 | Biến động phân bố mùa và độ lệch dòng chảy giữa Kratie và đồng bằng sông Cửu Long
| Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung Phạm Văn Tùng
| Nghiên cứu này phân tích sự biến động cấu trúc mùa và độ lệch dòng chảy giữa trạm Kratie (Campuchia) và vùng hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long thông qua các chỉ số thủy văn SCI, If và Id, dựa trên chuỗi lưu lượng trung bình tháng giai đoạn 1980-2024. Kết quả cho thấy sau năm 2010, cấu trúc mùa dòng chảy có sự dịch chuyển rõ rệt theo hướng lũ ngắn - kiệt dài, phản ánh xu thế giảm biên độ lũ và gia tăng dòng nền mùa khô. Chỉ số SCI giảm trung bình 10-15%, If giảm 8-10%, trong khi Id tăng 30-40%. Tại Kratie, sự gia tăng Id có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) cho thấy cơ chế điều tiết tự nhiên của Hồ Tonle Sap đã suy yếu, làm thay đổi chu kỳ tích - xả truyền thống và ảnh hưởng đến khả năng bù nước mùa khô cho ĐBSCL. Xu thế này đồng thời làm ngắn thời gian ngập lũ tự nhiên và tăng nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn trong mùa khô. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất cần điều chỉnh quy trình vận hành công trình thủy lợi, cập nhật lịch thời vụ nông nghiệp, và tăng cường phối hợp liên quốc gia trong chia sẻ dữ liệu và điều tiết dòng chảy theo mùa, nhằm duy trì cân bằng thủy văn và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu trong lưu vực Mekong. Từ khóa: Cấu trúc mùa; chỉ số SCI; dòng chảy lũ - kiệt; Kratie; Tân Châu; Châu Đốc; Hồ Tonle Sap |
57 | Những khuyến nghị chính sách áp dụng kinh tế tuần hoàn vào lĩnh vực nước sạch và vệ sinh nông thôn ở Việt Nam
| Đinh Văn Đạo | Việt Nam đang dần hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng nguyên lý Kinh tế tuần hoàn trong các lĩnh vực kinh tế xã hội ở cấp quốc gia, với mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, nhưng quy định về quản lý nước sạch và vệ sinh nông thôn chưa được chi tiết, do thiếu những đánh giá cơ bản. Bài báo này đã tổng hợp kết quả phát triển và áp dụng khung lý thuyết 8R cũng như ý kiến trong hội thảo quốc gia để đề xuất cơ hội khuyến nghị chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong quản lý nước sạch và vệ sinh nông thôn ở Việt Nam bao gồm: (i) Cần được lồng ghép toàn diện trong các sáng kiến phát triển nông thôn; (ii) Phát triển mô hình cộng đồng nông thôn tuần hoàn hỗ trợ tái tạo các hệ sinh thái nước tự nhiên; (iii) Hợp tác liên ngành chặt chẽ hơn; và (iii) Phát triển các giải pháp kỹ thuật phù hợp với chi phí hợp lý, kết hợp với phương thức quản lý hiệu quả theo các nguyên tắc tuần hoàn cơ bản. Đây là cơ sở quan trọng đề xuất các chính sách quản lý tài nguyên nước, phát triển nông thôn mới nói chung, và nước sạch và vệ sinh nông thôn nói riêng theo hướng tuần hoàn. Từ khóa: Nước sạch và vệ sinh, kinh tế tuần hoàn, chính sách, hệ sinh thái tự nhiên |
63 | Nguồn lực và khả năng hộ sản xuất nông lâm thủy sản áp dụng mô hình canh tác hiệu quả, bền vững vùng hưởng lợi dự án Cái Lớn - Cái Bé
| Nguyễn Tuấn Anh, Đoàn Doãn Tuấn Vũ Ngọc Hùng Nguyễn Ngọc Toản
| Dưới tác động của chế độ thủy triều Biển Đông, Biển Tây, dòng chảy sông Mê Công và chế độ mưa, vùng hưởng lợi hệ thống công trình Cái Lớn-Cái Bé tồn tại 3 vùng sinh thái ngọt, ngọt-lợ, mặn-lợ. Tại đây, người dân đa dạng hóa các mô hình sản xuất, dần hình thành các hệ thống canh tác với các mô hình canh tác ổn định, và mô hình canh tác chưa ổn định, thích ứng với điều kiện sinh thái một cách hiệu quả, bền vững. Tại vùng sinh thái ngọt, với nguồn lực của mình, hầu hết người dân có thể đầu tư vào các mô hình chuyên lúa 2-3 vụ/năm, 77% số hộ có khả năng đầu tư vào mô hình lúa-cá, 33% số hộ có khả năng đầu tư vào mô hình lúa-màu và chỉ có 22 % số hộ có khả năng đầu tư vào mô hình cây ăn trái áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Với nguồn vốn sản xuất của mình, 100% các hộ canh tác vùng ngọt lợ có khả năng áp dụng mô hình lúa – tôm, 62% số hộ có khả năng áp dụng mô hình khóm tôm. Tại vùng sinh thái mặn lợ có 89,9% số hộ có khả năng đầu tư vào mô hình tôm/cua-rừng, 100% hộ có khả năng đầu tư vào mô hình sò huyết dưới tán rừng.Hai nguồn lực của hộ ảnh hưởng đến khả năng áp dụng các mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao là nguồn lực lao động và diện tích đất sản xuất. Hộ có diện tích đất sản xuất lớn và nhiều lao động có khả năng áp dụng các mô hình sản xuất mang lại lợi nhuận cao hơn hộ có ít diện tích sản xuất và nguồn lực lao động. Từ khóa: Hệ Thống canh tác, Mô Hình canh tác bền vứng, hiệu quả, Nguồn lực hộ sản xuất, khả năng áp dụng Mô Hình của hộ, Vùng hưởng lợi công trình Cái Lớn-Cái Bé |
71 | Xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng nước hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà
| Nguyễn Quang Phi Hoàng Thanh Huyền
| Nghiên cứu đánh giá tổng hợp chất lượng nước hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà giai đoạn 2021–2022 dựa trên 13 thông số môi trường tại 20 điểm quan trắc, bằng cách kết hợp chỉ số WQI và phân tích đa biến PCA–FA. Kết quả cho thấy WQI dao động từ 13 đến 91, suy giảm rõ ở hạ lưu và mùa khô, nhiều điểm ở mức “ô nhiễm nặng”. PCA xác định 4 thành phần chính phản ánh ô nhiễm hữu cơ – vi sinh, dinh dưỡng, độ mặn và vật lý – lơ lửng, với tổng phương sai giải thích đạt trên 70%. Phân tích FA củng cố các nhóm tác nhân chi phối và mối liên hệ với WQI. Nghiên cứu đề xuất khung tiếp cận tích hợp WQI–PCA–FA phù hợp cho giám sát chất lượng nước theo không gian – thời gian trong các hệ thống kênh nội đồng, làm cơ sở phân vùng quản lý và kiểm soát điểm nóng ô nhiễm. Từ khóa: Chất lượng nước, WQI, PCA, FA, phân tích đa biến, Bắc Nam Hà |
83 | Nghiên cứu tái chế rác thải nhựa làm cốt liệu sản xuất bê tông xanh | Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thanh Huyền | Trong nghiên cứu đã thay thế 1%, 3%, 5%, 10% và 15% cốt liệu mịn tự nhiên bằng cốt liệu nhựa PET nghiền mịn, kết hợp với phụ gia khoáng là Tro bay để sản xuất bê tông có cường độ, tính chống thấm, tính công tác đáp ứng yêu cầu thi công các công trình xây dựng. Bê tông sử dụng cốt liệu nhựa PET tái chế kết hợp với phụ gia khoáng có cường độ nén ở 28 ngày tuổi tăng từ 8.56% đến 21.51% tương ứng với hàm lượng cốt liệu nhựa PET thay thế cát tự nhiên từ 1% đến 10%, mác chống thấm của bê tông đạt W10 ở tuổi 28 ngày và W12 ở tuổi 90 ngày, tăng từ 1 đến 2 cấp so với mẫu bê tông đối chứng. Sử dụng cốt liệu nhựa PET tái chế nghiền mịn thay thế cát tự nhiên góp phần giảm giá thành xây dựng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, làm đa dạng các loại vậy liệu xây dựng xanh thân thiện với môi trường. Từ khóa: Cốt liệu, nhựa PET, Tro bay, phụ gia siêu dẻo. |
93 | Nghiên cứu lựa chọn công trình điều hoà nguồn nước cho hạ du sông Mã
| Lương Ngọc Chung, Nguyễn Nguyên Hoàn, Lê Thị Tươi, Nguyễn Văn Tuấn | Xây dựng các công trình điều hoà nguồn nước nhằm ứng phó với tình hình hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn hạ du đã được thực hiện ở nhiều lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam. Đối với lưu vực sông Mã, tình trạng hạ thấp mực nước, thiếu nước phục vụ dân sinh và sản xuất ngày càng nghiêm trọng đặt ra yêu cầu cấp thiết cần xây dựng công trình điều hoà nguồn nước phía hạ du các bậc thang thuỷ điện. Bài báo này sẽ trình bày các nội dung tính toán nhằm lựa chọn vị trí, quy mô, các thông số kỹ thuật và hiệu quả công trình mang lại nhằm tạo cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học vững chắc, làm nền tảng cho việc ra quyết định đầu tư và thiết kế chi tiết công trình Cẩm Hoàng trên sông Mã. Từ khoá: Công trình điều hoà nguồn nước; Sông Mã; Tiêu chí (TC); Mô hình thuỷ lực, Cẩm Hoàng. |
100 | Dự đoán đặc tính thủy lực bơm vận hành ngược trong chế độ tuabin từ dữ liệu thực nghiệm của bơm
| Nguyễn Thị Nhớ | Nghiên cứu này đề xuất một quy trình dự báo 10 bước nhằm xây dựng nhanh các đường đặc tính H(Q) và P(Q) của bơm khi vận hành ở chế độ tuabin (Pump as Turbine – PAT), dựa trên dữ liệu thực nghiệm của bơm. Phương pháp sử dụng hệ số chuyển đổi cột nước (CH), lưu lượng (CQ) và các đồ thị đã được chuẩn hóa từ bộ dữ liệu thực nghiệm của 80 bơm ly tâm. Mẫu bơm KL-ISO 80×65–160 được lựa chọn để kiểm chứng độ tin cậy. Kết quả cho thấy, tại điểm thiết kế (QT,BEP), mô hình dự báo hiệu suất đạt 75%, thấp hơn 2,8% so với giá trị thực nghiệm (77,8%). Trong dải (0,8÷1,2)QT,BEP, sai số cột nước chỉ 1,8÷3,3% và sai số công suất trong khoảng 6,1÷9,7%. Tuy vậy, mô hình còn hạn chế trong việc mô tả đường cong hiệu suất Từ khóa: Pump as Turbine (PAT); điểm thiết kế (BEP); hệ số chuyển đổi CH, CQ; dự báo đường đặc tính. |
110 | Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước tại tỉnh Bình Dương sử dụng mô hình DPSIR
| Nguyễn Thị Minh Hằng, Hoàng Thị Quỳnh, Lê Huỳnh Nhật Anh, Nguyễn Thùy Dương | Nghiên cứu này sử dụng mô hình DPSIR để đánh giá chất lượng nước mặt tại tỉnh Bình Dương. Kết quả cho thấy sự gia tăng dân số và phát triển công nghiệp là động lực chính gây áp lực lên môi trường nước mặt tại đây. Các nguồn ô nhiễm chính bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, và nước hồi quy nông nghiệp. Chất lượng nước mặt tại các sông trên địa bàn tỉnh cho thấy mức độ ô nhiễm nước đặc biệt tại khu vực hạ lưu các sông chính. Chỉ số WQI năm 2023 cho thấy các sông đạt chất lượng tốt ở đầu nguồn, còn hạ lưu nơi tiếp nhận nhiều nguồn thải chỉ đạt mức trung bình đặc biệt vào mùa khô. Ô nhiễm nước gây ra một số ảnh hưởng đến sinh hoạt và các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Các giải pháp đề xuất bao gồm tăng cường xử lý nước thải, giám sát nguồn thải công nghiệp và bổ sung nguồn nước mùa kiệt. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của kiểm soát nguồn thải, quản lý bảo vệ môi trường nước bền vững. Từ khóa: Chất lượng nước mặt, ô nhiễm nước, DPSIR, Bình Dương, nước thải, WQI. |
Ý kiến góp ý:

