Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 94 năm 2026
10/03/2026THỂ LỆ VIẾT BÀIBài viết phải đảm bảo chưa công bố, đăng tải trên các Báo, Tạp chí, độ dài không quá 10 trang, được đánh máy vi tính theo phông Times New Roman, cỡ chữ 12, in trên khổ A4 kèm theo file hoặc gửi qua Email. Bài viết sử dụng tiếng Việt, kèm theo tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt và tiếng Anh (không quá 200 từ). Công thức được viết theo Equation Editor và đánh số thứ tự về bên phải. Các bản vẽ phải đúng quy định vẽ kỹ thuật, kích thước không quá 15 x 20cm. Các bài có bản đồ từng vùng hoặc cả nước cần vẽ theo mẫu chính xác, đúng theo quy cách hiện hành, các bản vẽ, biểu bảng phải đánh số thứ tự. Thứ tự sắp xếp bài báo: - Tên bài báo - Họ và tên tác giả, học hàm, học vị, cơ quan công tác - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Việt). - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Anh) - Nội dung bài báo. - Tài liệu tham khảo: đặt liền với bài và ghi thứ tự, số thứ tự được đặt trong [ ]. Trích dẫn tên đề tài công bố. |

Trang | Tên bài báo | Tác giả | Tóm tắt |
2 | Phân tích tần suất lũ trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn trong điều kiện biến đổi khí hậu
| Đỗ Hoài Nam, Trần Phương Anh Kiều Xuân Tuyển | Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến những thay đổi về tần suất mưa, lũ trên hầu hết các lưu vực sông. Việc hiểu rõ những thay đổi này là rất quan trọng để xây dựng các chiến lược quản lý lũ và thích ứng hiệu quả. Bài báo trình bày dự tính lũ lớn tại các lưu vực Nông Sơn và Thạnh Mỹ, ở các giai đoạn khí hậu trung hạn (2040-2059) và dài hạn (2080-2099) sử dụng dự tính khí hậu bởi các mô hình độ phân giải cao từ Dự án so sánh đối chứng mô hình (CMIP6). Mô hình mưa-dòng chảy (Super-Tank) đã được sử dụng để mô phỏng dòng chảy và phân tích tần suất lũ ứng với các kịch bản khí hậu. Theo kịch bản phát thải trung bình (SSP245), hầu hết các mô hình dự báo lũ nghiêm trọng hơn vào giữa thế kỷ so với cuối thế kỷ. Ngược lại, ứng với kịch bản phát thải cao (SSP585), các trận lũ lớn được dự tính sẽ xảy ra nhiều hơn vào cuối thế kỷ. Từ khóa: BĐKH, CMIP6, độ phân giải cao, lũ lớn, mô hình SuperTank. |
9 | Đánh giá hiệu quả vận hành thử nghiệm | Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung Phạm Văn Tùng Nguyễn Đăng Luân | Nghiên cứu đánh giá hiệu quả vận hành thử nghiệm (2021-2023) của hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé dựa trên chuỗi quan trắc mực nước, độ mặn, lưu lượng tại 25 trạm và mô phỏng thủy lực - mặn bằng mô hình MIKE 11/21FM đã hiệu chỉnh, kiểm định cho các năm đại diện (2018 - lũ trung bình; 2022 - khô hạn). Kết quả cho thấy phương án vận hành điều tiết linh hoạt theo tín hiệu mặn - triều - mùa làm ranh mặn 4,0 g/L lùi về hạ lưu 8-12 km so với năm cơ sở 2020; mực nước đỉnh triều nội đồng hạ trung bình 0,25-0,35 m; diện tích ngập sâu >0,3 m giảm khoảng 2.000-2.300 ha. Trong mùa khô 2023, mực nước nội đồng duy trì 0,4-0,6 m đáp ứng nhu cầu tưới - tiêu cho khoảng 70% vùng tôm - lúa, đồng thời các vùng ngọt hóa không ghi nhận nhiễm mặn đầu vụ Đông Xuân. Độ tin cậy mô hình đạt mức cao (NSE > 0,90 đối với mực nước; NSE > 0,85 đối với độ mặn; R² = 0,93), bảo đảm cơ sở định lượng cho phân tích kịch bản. Trên nền kết quả này, nghiên cứu đề xuất khung quy trình vận hành thích ứng ba cấp (đầu mối - phân vùng - nội đồng) tích hợp quan trắc thời gian thực và mô phỏng dự báo ngắn hạn, làm căn cứ hoàn thiện quy trình vận hành chính thức của hệ thống. Từ khóa: Hệ thống Cái Lớn - Cái Bé; vận hành thử nghiệm; kiểm soát mặn; MIKE 11/21FM; quy trình vận hành thích ứng. |
20 | Giải pháp huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong đầu tư và quản lý nước sạch nông thôn
| Trương Đức Toàn, Bùi Anh Tú
| Nước sạch nông thôn có vai trò quan trọng đối với sức khỏe người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững các vùng nông thôn ở Việt Nam. Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, ngân sách nhà nước hạn chế và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý khai thác các hệ thống công trình, việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp trong đầu tư và quản lý nước sạch nông thôn trở thành yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng sự tham gia của doanh nghiệp trong cấp nước sạch nông thôn, tìm ra những vấn đề tồn tại và từ đó đề xuất các giải pháp huy động doanh nghiệp tham gia đầu tư và quản lý nước sạch nông thôn phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố về thể chế, chính sách giá nước, hỗ trợ tài chính và cơ chế chia sẻ rủi ro có ảnh hưởng quyết định đến sự tham gia của doanh nghiệp. Từ hàm ý rút ra, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp về hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính, mô hình quản lý và tổ chức thực hiện nhằm thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp trong lĩnh vực nước sạch nông thôn ở Việt Nam trong tương lai. Từ khóa: Nước sạch nông thôn, Doanh nghiệp tư nhân, Đầu tư, Xã hội hóa, Chính sách |
29 | Ứng dụng thuật toán cây khung trên nền tảng QGIS
| Nguyễn Văn Kiên Lã Phú Hiến, Đặng Minh Hải
| Mạng lưới đường ống tưới thay thế kênh hở truyền thống đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới để cải thiện hiệu quả tưới tiêu. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, chi phí mạng lưới đường ống tưới thường chiếm tỷ lệ cao trong chi phí xây dựng hệ thống. Do đó tối ưu hóa chiều dài tuyến ống luôn nhận được sự quan tâm, nghiên cứu. Bài báo này áp dụng thuật toán cây khung nhỏ nhất (Minimum Spaning Tree-MST) trên nền tảng QGIS để bố trí tối ưu tuyến ống tại khu tưới xã Búng Lao, tỉnh Điện Biên. Kết quả kiểm định so với thiết kế hiện trạng có sai số chiều dài 0,5% đảm bảo độ tin cậy. Tham số đầu vào dựa trên bố trí cửa lấy nước từng thửa ruộng với diện tích bình quân 1,0ha, nguồn nước tại suối Nậm Cô, các vật cản và định hướng tuyến ống. Kết quả xác định chiều dài tuyến ống tối ưu theo phương án tối thiểu là 9.207,4m và phương án quản lý vận hành là 11.223,4m. Ngoài thời gian phân tích nhanh chóng, kết quả phân tích được hiển thị trực quan trên QGIS hỗ trợ cơ quan quản lý, cộng đồng dân cư và các bên liên quan xem xét, thảo luận để lựa chọn được phương án phù hợp. Từ khóa: Bộ trí tối ưu; đường ống dẫn nước; thuật toán cây khung, QGIS |
37 | Hệ thống cảnh báo ngập lụt đô thị dựa trên phân tích big data và thuật toán học sâu. áp dụng thí điểm cho khu đô thị trung tâm thành phố Đà Nẵng | Nguyễn Đức Diện, Lê Văn Nghị, Mai Thị Ngân Anh
| Ngập lụt đô thị là thách thức toàn cầu, đòi hỏi các giải pháp dự báo tốc độ cao mà các mô hình thủy lực truyền thống khó đáp ứng. Bài báo này đề xuất hệ thống cảnh báo ngập lụt thời gian thực, áp dụng thí điểm tại trung tâm TP. Đà Nẵng, dựa trên kiến trúc dữ liệu lai giữa MongoDB (xử lý dữ liệu IoT chuỗi thời gian) và PostGIS (quản lý dữ liệu địa hình DEM và mạng lưới cống). Mục tiêu chính của nghiên cứu là việc xây dựng một mô hình thay thế cho mô hình thủy lực SWMM, kết hợp giữa LSTM và Graph Neural Network - GNN. Mô hình lai ghép này được huấn luyện trên dữ liệu mô phỏng từ SWMM, cho phép dự báo ngập lụt với độ chính xác tương đương nhưng thời gian tính toán giảm đáng kể, hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định và đánh giá rủi ro tức thời. Từ khóa: Big Data, ngập lụt đô thị, mô hình học sâu, LSTM, GNN, MongoDB, PostGIS, DEM, IoT, Thành phố Đà Nẵng. |
43 | Nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp chiến lược
| Phạm Thị Bình
| Hiện nay, lượng nước thất thoát trong hệ thống cấp nước đô thị trên thế giới và đặc biệt tại nhiều nước khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam, vẫn là một thách thức lớn. Trước đây, tỷ lệ này chiếm từ 30-40% lượng nước sản xuất. Đến năm 2025, mặc dù đã có nhiều nỗ lực theo các Chương trình Quốc gia nhằm giảm tỷ lệ này xuống dưới 15% [1], nhưng áp lực từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng và biến đổi khí hậu làm cho vấn đề cung cấp nước sạch càng trở nên gay gắt. Bài báo này tập trung phân tích sâu hai nhóm nguyên nhân chính gây thất thoát là nguyên nhân kỹ thuật và nguyên nhân quản lý. Dựa trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp tổng thể, từ việc hoàn thiện khung pháp lý, cải cách cơ chế giá, đến việc áp dụng các công nghệ dò tìm rò rỉ hiện đại và quản lý mạng lưới thông minh (Smart Water) nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững cho ngành nước. Từ khóa: Thất thoát nước sạch, Cấp nước đô thị, Quản lý thất thu, Rò rỉ đường ống, Cấp nước thông minh. |
50 | Dự báo lưu lượng tuần và tháng tại Tân Châu - Châu Đốc dựa trên dữ liệu kratie bằng phương pháp hồi quy thời gian trễ
| Phạm Văn Tùng Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung
| Nghiên cứu đánh giá và dự báo lưu lượng tại Tân Châu - Châu Đốc dựa trên tín hiệu thượng lưu ở Kratie bằng các mô hình hồi quy thời gian trễ, phục vụ cảnh báo và vận hành chế độ nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ dữ liệu gồm chuỗi lưu lượng ngày 1980-2024 tại Kratie, Tân Châu, Châu Đốc; được tổng hợp theo tuần và tháng, chuẩn hóa sai số, đồng bộ thời gian và tách hai giai đoạn thủy văn: trước năm 2010 (trước khi vận hành mạnh hệ thống hồ chứa dòng chính) và giai đoạn sau 2010. Phân tích tương quan chéo cho thấy độ trễ lan truyền Kratie - Tân Châu trung bình 1-2 tuần trước 2010 và 2-3 tuần sau 2010; với Châu Đốc dài hơn khoảng 1 tuần. Ở quy mô tháng, hồi quy tuyến tính giữa Kratie và Tân Châu cho phương trình trước 2010 với R² = 0,887 và sau 2010 với R² = 0,816 phản ánh xu thế giảm đồng biến và tăng độ trễ sau khi điều tiết thượng nguồn gia tăng. Mô hình dự báo đạt NSE khoảng 0,80-0,88 (tháng) và 0,65-0,75 đến >0,75 (tuần theo giai đoạn), PBIAS trong ±5-8%, RMSE tăng nhẹ sau 2010. So với Châu Đốc, Tân Châu có tương quan mạnh hơn và độ trễ ngắn hơn, phù hợp cơ chế truyền trực tiếp dọc sông Tiền. Kết quả cho thấy mô hình hồi quy trễ và ARIMAX với bậc trễ tối ưu 1-3 tuần đủ tin cậy cho cảnh báo dòng chảy thấp 10-20 ngày và dự báo trung hạn theo tháng; đồng thời sẵn sàng tích hợp vào MIKE 11 và MRC-DSS nhằm nâng cao năng lực vận hành, phân bổ nước và ứng phó hạn hán - xâm nhập mặn ở hạ lưu Mekong. Từ khóa: Kratie, Tân Châu, Châu Đốc, hồi quy thời gian trễ, tương quan chéo, dự báo tuần - tháng, NSE, R², ĐBSCL. |
64 | Ứng dụng mô hình học máy random forest mô phỏng dòng chảy của lưu vực sông Vệ-Quảng Ngãi | Trần Tuấn Thạch
| Tài nguyên nước của lưu vực sông có vai trò thiết yếu đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Việc mô phỏng xác định dòng chảy trên sông do đó rất cần thiết nhằm đưa ra chiến lược quy hoạch phân bổ tài nguyên nước một cách bền vững cũng như có kế hoạch ứng phó với các thiệt hại do lũ gây ra. Trong nghiên cứu này, mô hình học máy Random Forest (RF) được ứng dụng để mô phỏng dòng chảy trên lưu vực sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi dựa trên nền nguôn ngữ lập trình Python. Tài liệu khí tượng thủy văn của các trạm đo trong lưu vực sông Vệ sử dụng trong nghiên cứu được quan trắc từ năm 1981÷2022. Số liệu quan trắc để mô phỏng được chia làm 2 phần, 70% số liệu mẫu (từ năm 1981÷2010) được dùng để đào tạo mô hình và 30% số liệu (từ năm 2011÷2022) được dùng làm kiểm định mô hình. Mô hình RF được xây dựng để mô phỏng dòng chảy trên sông Vệ tại trạm An Chỉ với trường hợp sử dụng lượng mưa như yếu tố đầu vào tại trạm khí tượng Ba Tơ và trạm An Chỉ. Dựa trên kết quả mô phỏng cho thấy: 1) Mô hình RF cho kết tính toán lưu lượng có độ chính xác cao so với số liệu quan trắc (R2³0,77; RMSE £96,6 m3/s; MAPE £3,91%); 2) Kết quả mô phỏng lưu lượng sử dụng trạm đo mưa Ba Tơ có mức độ chính xác hơn so với sử dụng mưa của trạm An Chỉ. Trong đó, giai đoạn đào tạo mô hình RF với trạm đo mưa Ba Tơ (R2=0,90; RMSE=63,4 m3/s; MAPE=1,84%) cao hơn so với mô phỏng của mô hình RF cho trạm đo mưa An Chỉ (R2=0,84; RMSE=85,4 m3/s; MAPE=1,97%). Tương tự, trong giai đoạn kiểm định mô hình RF cũng cho thấy xu hướng tương tự với độ chính xác mô phỏng của trạm mưa Ba Tơ cao hơn trạm mưa An Chỉ, các chỉ số đánh giá độ chính xác của mô hình lần lượt là (R2=0,85; RMSE =78,4 m3/s; MAPE =3,51%) và (R2=0,77; RMSE =96,6 m3/s; MAPE =3,91%). Từ khóa: Dòng chảy trên lưu vực sông, RF, lưu vực sông Vệ. |
73 | Giải pháp cải tạo hệ thống thoát nước nhằm giảm ngập lụt khu công nghiệp Chân núi Bà Nà
| Nguyễn Văn Sơn Phạm Bá Tuấn Anh Nguyễn Văn Hồng
| Ngập lụt là một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của các khu công nghiệp tại khu vực miền Trung Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mưa lớn cực đoan và biến đổi khí hậu. Trong đợt lũ tháng 10 vừa qua tại Đà Nẵng, Khánh Hòa đã gây ngập lụt nghiêm trọng cho khu vực này. Điều này cho thấy mức độ cực đoan của thời tiết do biến đổi khí hậu đang tác động mạnh mẽ đến khu vực miền trungViệt Nam. Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiện trạng tiêu thoát nước và đề xuất các giải pháp cải tạo hệ thống thoát nước nhằm giảm ngập lụt cho khu công nghiệp Chân núi Bà Nà, thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện hiện trạng, khu vực nghiên cứu xuất hiện ngập lụt trên diện rộng, chủ yếu tập trung dọc các tuyến sông suối và vùng trũng thấp. Sau khi áp dụng các giải pháp cải tạo hệ thống thoát nước, đặc biệt là chỉnh trị và mở rộng lòng suối, tổng diện tích ngập giảm khoảng 73–75% so với hiện trạng, và khu vực quy hoạch khu công nghiệp không còn xảy ra ngập úng ngay cả trong các kịch bản mưa lớn và biến đổi khí hậu. Các kết quả đạt được khẳng định tính hiệu quả và khả thi của các giải pháp đề xuất, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý rủi ro ngập lụt đối với các khu công nghiệp có điều kiện tự nhiên tương tự. Từ khóa: Ngập lụt; hệ thống thoát nước; mô hình MIKE FLOOD; cải tạo lòng suối; biến đổi khí hậu |
82 | Nghiên cứu sử dụng giải pháp vật liệu để tăng cường độ và tính bền của bê tông ứng dụng cho các công trình thủy lợi | Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thanh Huyền | Trong nghiên cứu đã sử dụng phải pháp vật liệu là phụ gia khoáng siêu mịn Silica fume (SF) thay thế một phần xi măng Pooclăng, kết hợp với phụ gia siêu dẻo giảm nước bậc cao thiết kế thành phần bê tông tự lèn có cường độ và mác chống thấm cao. Bên cạnh đó, sử dụng sơn chống thấm để quét bề mặt bê tông ngay sau khi thi công, đảm bảo cho cấu trúc bê tông đặc chắc, cường độ nén tăng 14,8% với cấp phối bê tông đối chứng (bê tông sử dụng 100% XM Po) và tăng 21,6% đối với bê tông có sử dụng PGK siêu mịn SF; còn mác chống thấm tăng lên rất cao (W10 ÷W12), tăng từ 1 đến 2 cấp so với tiêu chuẩn yêu cầu. Vì vậy, để tăng cường độ và độ đặc chắc cho bê tông, trong thiết kế cần sử dụng các loại PGK để hạn chế các thành phần hóa học Ca(OH)2 gây nên hiện tượng xâm thực bê tông, tăng các sản phẩm C-S-H trong cấu trúc của bê tông, từ đó sẽ tăng độ đặc chắc của bê tông, làm tăng cường độ và tính bền cho bê tông. Từ khóa: Bê tông tự lèn, Silica fume, phụ gia siêu dẻo. |
93 | Định lượng hóa tương tác đất - rễ trong thiết kế kè sinh thái: Khoảng trống nghiên cứu và định hướng cho Việt Nam | Nguyễn Quang Hùng Nguyễn Kiên Quyết Mai Trọng Luân | Giải pháp kè xanh sinh thái (sinh thái - thủy lợi) đang được ứng dụng để phòng chống sạt lở bờ sông tại Việt Nam, nhưng phần lớn thiết kế vẫn dựa trên kinh nghiệm hoặc hiệu quả thủy lực mà chưa định lượng được vai trò cơ học của hệ rễ trong ổn định mái dốc. Bài báo này phân tích cơ sở khoa học về tương tác đất - rễ, làm rõ các khái niệm về cường độ chịu kéo, mật độ rễ (RAR) và ảnh hưởng của chúng đến sức kháng cắt của đất. Thông qua việc đối sánh với các phương pháp tính toán từ đơn giản đến phức tạp trên thế giới, nghiên cứu chỉ ra những khoảng trống tại Việt Nam: thiếu hụt dữ liệu cơ học của cây bản địa, phương pháp đo lường chưa chuẩn hóa và thiếu quy trình tính toán hệ số an toàn trong thiết kế. Từ đó, đề xuất định hướng nghiên cứu chuyên sâu về tương tác rễ - đất nhằm nâng cao độ tin cậy của thiết kế công trình kè sinh thái. Từ khóa: Cơ học đất cốt rễ, Sức kháng cắt, Tương tác đất-rễ, Ổn định bờ sông |
97 | Ứng dụng python và streamlit trong tính toán
| Phạm Ngọc Thịnh, Nguyễn Phúc Hậu, Trần Khắc Thạc Nguyễn Hải Đăng | Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý tài nguyên nước, việc tự động hóa quá trình tính toán điều tiết lũ hồ chứa trở nên cấp thiết. Nghiên cứu này trình bày việc phát triển một công cụ tính toán dựa trên ngôn ngữ Python, cho phép tự động hóa hoàn toàn quy trình điều tiết lũ từ nhập dữ liệu, thực hiện tính toán đến trực quan hóa và xuất báo cáo kết quả. Hai phương pháp kinh điển là Potapov và Thử dần được mã hóa thành các mô-đun độc lập, đảm bảo khả năng mở rộng, tái sử dụng và tích hợp với các hệ thống số hóa trong tương lai. Dữ liệu đầu vào bao gồm đường quá trình lũ đến, quan hệ dung tích–cao trình mực nước của hồ và các thông số tràn. Chương trình thực hiện diễn toán theo phương trình cân bằng nước dạng rời rạc, sử dụng nội suy tuyến tính và vòng lặp tự động. Kết quả mô phỏng cho thấy sai số giữa chương trình và phương pháp đồ giải truyền thống nhỏ hơn 4%, chứng tỏ độ chính xác và ổn định cao của thuật toán. Giao diện web xây dựng bằng Streamlit cho phép người dùng lựa chọn phương pháp tính, quan sát đồ thị động của lưu lượng và mực nước, cũng như xuất báo cáo tự động. Cách tiếp cận đề xuất giúp tăng hiệu suất tính toán, giảm sai sót thao tác và đảm bảo tính minh bạch nhờ cơ chế lưu trữ dữ liệu dạng DataFrame. Bên cạnh ứng dụng kỹ thuật, công cụ còn có ý nghĩa trong giảng dạy và quản lý vận hành hồ chứa, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong thiết kế và quản lý công trình thủy lợi. Hướng phát triển tiếp theo sẽ mở rộng mô hình cho bài toán liên hồ và tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm tối ưu hóa vận hành theo thời gian thực. Từ khóa: Điều tiết lũ; Phương pháp Potapov; Vận hành hồ chứa; Python; Streamlit; Mô hình thủy văn; Chuyển đổi số. |
104 | Đánh giá ảnh hưởng tiềm tàng của tổ mối đến thấm | Lê Xuân Khâm | Việt Nam hiện có khoảng 6.750 hồ chứa thủy lợi, hầu hết là đập đất. Mối là một trong những tác nhân sinh học có thể ảnh hưởng xấu đến an toàn đập bằng cách tạo ra các đường thấm ưu tiên bên trong thân đập. Nghiên cứu này xem xét các loài mối chính ảnh hưởng đến đập đất ở Việt Nam, mô tả đặc điểm cấu trúc của tổ mối nổi và tổ mối chìm. Dựa trên số liệu khảo sát thực địa và mô hình số đơn giản, phân tích ảnh hưởng tiềm tàng của tổ mối đến thấm và ổn định mái dốc đối với đập Dốc Cáy, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả cho thấy sự phát triển của tổ mối có thể làm tăng đáng kể độ dốc thủy lực cục bộ và giảm an toàn thấm, đặc biệt là khi mực nước hồ chứa cao. Nếu những sự cố này xảy ra trong quá trình vận hành đập kéo dài, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Từ khóa: Tổ mối chìm, tổ mối nổi, phát triển tổ mối, an toàn đập |
113 | Nghiên cứu chế độ tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có xét đến điều kiện xâm nhập mặn
| Nguyễn Gia Vượng, Lê Thị Thanh Vân, Trần Hùng, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Linh
| Sầu riêng là cây có giá trị xuất khẩu hàng tỷ đô la mỗi năm cho Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng nhanh cả về diện tích và giá trị kinh tế trong khoảng 5 năm gần đây. Một trong những vùng trồng lâu đời và có diện tích lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong phạm vi nghiên cứu được Bộ NN&PTNT (nay là Bộ TN&MT) giao, nhóm đã thực hiện điều tra, xây dựng mô hình và tính toán, đề xuất được chế độ tưới hợp lý trong điều kiện khí hậu bình thường với kỹ thuật phun mưa có tổng lượng tưới 1.100-1.200 m3/ha-năm (giảm 33,5-34,0% tổng lượng tưới so với tưới bằng biện pháp thủ công, dùng vòi xịt trực tiếp vào gốc. Trong điều kiện xảy ra xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt để tưới, tại hai giai đoạn nhạy cảm nước, trùng vào thời điểm thường xảy ra xâm nhập mặn và mang tính quyết định đến năng suất, chất lượng quả và sức khỏe của cây là giai đoạn “Ra nụ” và “Nuôi quả đầu mùa mưa”, nghiên cứu đã kết luận việc giảm lần lượt 20% và 25% tổng lượng nước tưới so với khuyến cáo tưới trong điều kiện bình thường là hoàn tòan khả thi để đảm bảm năng suất và sức khỏe của cây.. Từ khóa: Sầu riêng, thời kỳ kinh doanh, tưới phun mưa, xâm nhập mặn, Đồng bằng sông Cửu Long, chế độ tưới. |
Ý kiến góp ý:

