TextBody
Huy chương 2

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 95 năm 2026

08/05/2026

THỂ LỆ VIẾT BÀI

Bài viết phải đảm bảo chưa công bố, đăng tải trên các Báo, Tạp chí, độ dài không quá 10 trang, được đánh máy vi tính theo phông Times New Roman, cỡ chữ 12, in trên khổ A4 kèm theo file hoặc gửi qua Email. Bài viết sử dụng tiếng Việt, kèm theo tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt và tiếng Anh (không quá 200 từ). Công thức được viết theo Equation Editor và đánh số thứ tự về bên phải. Các bản vẽ phải đúng quy định vẽ kỹ thuật, kích thước không quá 15 x 20cm. Các bài có bản đồ từng vùng hoặc cả nước cần vẽ theo mẫu chính xác, đúng theo quy cách hiện hành, các bản vẽ, biểu bảng phải đánh số thứ tự.

Thứ tự sắp xếp bài báo:

- Tên bài báo

- Họ và tên tác giả, học hàm, học vị, cơ quan công tác

- Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Việt).

- Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Anh)

- Nội dung bài báo.

- Tài liệu tham khảo: đặt liền với bài và ghi thứ tự, số thứ tự được đặt trong [ ].

Trích dẫn tên đề tài công bố.

Trang

Tên bài báo

Tác giả

Tóm tắt

2

Xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở đất theo ngưỡng mưa khu vực quảng nam  trên cơ sở phân tích chỉ số ổn định sườn dốc

 

Hoàng Việt Hùng
Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi

Nguyễn Tiếp Tân
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Bài báo trình bày về phát triển bản đồ nguy cơ sạt lở đất theo phương pháp phân tích chỉ số ổn định của sườn dốc. Phương pháp này xét được các yếu tố mặt đệm liên quan đến cường độ mưa và ưu điểm nhất của phương pháp là tiếp cận được các ngưỡng mưa khác nhau và trực quan hóa quá trình phát sinh, phát triển sạt lở đất. Kết quả nghiên cứu đã phát triển được các bản đồ nguy cơ sạt lở đất ứng với các lượng mưa tích lũy ngày 50mm, 100mm, 200mm, 400mm. Các bản đồ này được so sánh, đối chiếu với bản đồ hiện trạng sạt lở đất và bản đồ nguy cơ sạt lở đất hiện có ở địa phương thành lập theo phương pháp kinh nghiệm để quy đổi từ mật độ sạt lở sang các cấp nguy cơ theo vùng địa giới hành chính cấp xã. Kết quả nghiên cứu đã trợ giúp các nhà quản lý chủ động ứng phó thiên tai đến cấp xã khi biết được lượng mưa dự báo.

Từ khóa: Bản đồ nguy cơ sạt lở đất, chỉ số ổn định sườn dốc, ngưỡng mưa, lượng mưa tích lũy ngày, ứng phó thiên tai.

11

Tác động thủy văn - sinh thái của hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé đến sản xuất tôm-lúa và cây trồng nước ngọt: phân tích quan trắc trước- sau vận hành

 

Phạm Văn Tùng
Viện Kỹ thuật Biển

Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung
Trường Đại học Thủy lợi

Nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa biến động thủy văn (độ mặn, mực nước) và hiệu quả sản xuất nông-thủy sản sau khi hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé vận hành thử (2021-2023). Bộ dữ liệu gồm chuỗi quan trắc tại 12 điểm đo (2020-2023) và số liệu năng suất tôm, lúa theo các vụ Đông Xuân, Hè Thu, Mùa. Dữ liệu được chuẩn hóa theo mùa vụ; tính chỉ số phơi nhiễm mặn (SI) và hệ số biến thiên (CV) để đặc trưng mức độ và độ ổn định mặn-nước; đồng thời ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS) liên hệ năng suất với SI, mực nước trung bình mùa vụ và thời điểm lấy nước đầu vụ. Kết quả cho thấy sau vận hành, độ mặn trung bình giảm 10-20%, biên độ dao động mặn ngày giảm khoảng 50%, và thời gian duy trì mặn ổn định cho nuôi tôm tăng thêm 10-15 ngày; mực nước nội đồng ổn định trong khoảng ±0,15 m. Tương ứng, năng suất tôm tăng 10-12% và lúa tăng 6-8%, đặc biệt rõ ở vùng chuyển tiếp An Biên - Gò Quao. Mô hình hồi quy đạt R² = 0,76; F p < 0,001, với hệ số của SI âm có ý nghĩa thống kê, còn Havg và Mintake dương, khẳng định vai trò then chốt của kiểm soát mặn-nước đối với năng suất. Nghiên cứu kiến nghị vận hành theo chế độ lấy mặn sớm, xả mặn-tích ngọt cuối vụ, kết hợp giám sát tự động và vận hành cộng đồng, nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế-sinh thái và tăng khả năng thích ứng khí hậu cho vùng tôm-lúa và ngọt hóa.

Từ khóa: Cái Lớn - Cái Bé; thủy văn - sinh thái; tôm-lúa; độ mặn; năng suất; cửa sổ triều; OLS

21

Hiện đại hóa công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, thích ứng với biến đổi khí hậu

 

Nguyễn Thị Kim Dung
Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

 

Hệ thống công trình thủy lợi (CTTL) Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội và phòng chống thiên tai. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhu cầu sử dụng nước ngày càng đa dạng, bao gồm cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch. Bên cạnh đó, với những biến động ngày càng phức tạp của khí hậu, các hệ thống CTTL truyền thống với thiết kế đơn mục tiêu đã bộc lộ nhiều hạn chế. Bài báo phân tích thực trạng và những thách thức của hệ thống CTTL, đồng thời đề xuất định hướng hiện đại hóa phục vụ đa mục tiêu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới quản lý và hoàn thiện thể chế là các yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả khai thác CTTL trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Công trình thủy lợi, đa mục tiêu, biến đổi khí hậu, hiện đại hóa.

29

Nâng cao công tác quản lý vận hành các công trình thủy lợi tại Công ty tnhh MTV khai thác thủy lợi An Hải

 

Bùi Anh Tú
Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi

Phạm Hùng
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trần Quang Trung
Viện hoá học công nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý vận hành các công trình thủy lợi tại Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi An Hải trong giai đoạn 2022–2024. Trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thực tế và áp dụng các phương pháp phân tích, so sánh, hạch toán kinh tế và chuyên gia, đề tài đã chỉ ra rằng công tác quản lý vận hành hiện nay cơ bản đáp ứng nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu, nhưng còn hạn chế về nguồn lực tài chính, trình độ nhân lực, tiến độ kiên cố hóa kênh mương và mức độ ứng dụng công nghệ trong điều hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trọng tâm gồm: tăng cường tự chủ tài chính, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng quản lý của cán bộ, hiện đại hóa hệ thống vận hành thông qua ứng dụng công nghệ số, và đẩy mạnh phối hợp với cộng đồng sử dụng nước. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả khai thác, đảm bảo an toàn công trình trong bối cảnh đổi mới quản lý thủy lợi hiện nay.

Từ khóa: Quản lý vận hành, công trình thủy lợi.

36

Nghiên cứu sự làm việc của đập đá đổ bê tông bản mặt và đập bê tông đá hộc

 

Phạm Nguyễn Hoàng, Nguyễn Quang Phú
Trường Đại học Thủy lợi

 

Bài báo trình bày nghiên cứu mô phỏng và so sánh sự làm việc của hai loại đập: đập đá đổ bản mặt bê tông (CFRD) và đập bê tông đá hộc, thông qua phần mềm SAP2000. Nghiên cứu xây dựng hai mô hình đập có cùng kích thước hình học (cao 15m, đáy rộng 90m), cùng tải trọng thủy lực và điều kiện vật liệu tương đương. Kết quả phân tích chỉ ra rằng, chuyển vị tại các vị trí quan trọng của đập CFRD (đỉnh và chân đập, mặt hạ lưu) đều lớn hơn so với đập bê tông đá hộc. Nguyên nhân là do độ cứng của đập đá hộc lớn hơn, giúp cải thiện độ ổn định tổng thể. Bài báo khẳng định đập bê tông đá hộc có khả năng chịu lực tốt hơn, ít biến dạng hơn trong điều kiện làm việc tương đương, đồng thời thi công đơn giản và kinh tế hơn, đặc biệt phù hợp với vùng có nguồn vật liệu đá tại chỗ. Ngoài ra, việc ứng dụng phần mềm SAP2000 được đánh giá là công cụ hiệu quả trong phân tích, hỗ trợ thiết kế kỹ thuật cho các loại đập Thủy lợi.

Từ khóa: Đập đá đổ bê tông bản mặt, Đập bê tông đá hộc, SAP2000.

43

Phân tích lún và các điều kiện ổn định của tuyến đường ven đê sông - ứng dụng tính toán cho tuyến đường
tại cơ đê tả sông Cấm thành phố Hải Phòng

 

Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Quang Hùng
Trường Đại học Thủy lợi

Vũ Thị Thảo
CH 32C21- Trường Đại học Thủy lợi

Nguyễn Kiên Quyết
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải

Nghiên cứu giới thiệu hiện trạng các dự án xây dựng tuyến đường giao thông kết hợp với hệ thống đê sông để phát triển hạ tầng thuỷ lợi - giao thông bền vững, tuy nhiên khi kết hợp các tuyến đường giao thông trên đỉnh đê hoặc cơ đê thì nhiều hệ thống đê đã xảy ra các sự cố hư hỏng như lún, nứt mặt đê, trượt và sạt mái đê trong đó sự cố chiếm tỷ lệ lớn là lún và nứt. Bài báo đã xây dựng bài toán tính lún cố kết, kiểm tra ổn định tuyến đường giao thông và công trình phụ trợ tại cơ của đê sông. Ứng dụng mô hình bài toán, kết hợp với các số liệu thu thập được từ tuyến đường ven đê tả sông Cấm đoạn đi qua tỉnh Hải Phòng, nghiên cứu đã kiểm tra ổn định tường chắn đất tiếp giáp đường tại một đoạn tường đại diện, kiểm tra mức an toàn của nền đắp (ổn định trượt taluy và lún trồi nền đường) và tính mức lún cố kết nền đường tại các mặt cắt đại diện cho 6.63km đường đê, từ đó đề xuất giải pháp dùng bấc thấm đứng kết hợp rải vải địa kỹ thuật gia cường để đảm bảo an toàn trên toàn tuyến đường ven đê.

Từ khoá: Chiều cao phòng lún, lún cố kết, xử lý nền đất yếu, lún trồi nền đắp, đường ven đê

51

Nghiên cứu khả năng mở rộng công suất các nhà máy thủy điện

 

Hoàng Công Tuấn
Trường Đại học Thủy lợi

 

Trong bối cảnh tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo tăng nhanh, hệ thống điện Việt Nam ngày càng cần các nguồn điện linh hoạt nhằm đảm bảo vận hành an toàn và ổn định. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng mở rộng công suất các nhà máy thủy điện hiện hữu, khi dư địa phát triển mới thủy điện lớn hầu như không còn. Nghiên cứu đề xuất các tiêu chí đánh giá dựa trên số giờ sử dụng công suất lắp máy và số giờ đảm bảo năng lượng phát công suất khả dụng trong mùa khô. Kết quả áp dụng cho 20 nhà máy thủy điện lớn có khả năng điều tiết dài hạn cho thấy, tiềm năng mở rộng công suất phụ thuộc đáng kể vào mức độ điều tiết của hồ chứa; để đảm bảo yêu cầu phủ đỉnh tối thiểu 5 giờ, tổng công suất có thể mở rộng thêm khoảng 6500 MW. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch phát triển các nguồn lưu trữ và nâng cao an ninh năng lượng quốc gia.

Từ khóa: Thủy điện; Mở rộng công suất; Lưu trữ năng lượng; Hệ thống điện.

60

Tiếp cận hiện đại trong thiết kế lũ và an toàn đập: bài học từ ICOLD bulletin 170 và định hướng cập nhật tiêu chuẩn trong nước

 

Nguyễn Ngọc Tuấn, Đỗ Ngọc Ánh
Viện Thuỷ điện và năng lượng tái tạo

Nguyễn Quốc Dũng
Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam

Thiết kế thuỷ văn đóng vai trò nền tảng trong xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện và phòng chống thiên tai, bảo đảm công trình vận hành an toàn và hiệu quả. Trong đó, tính toán lũ thiết kế là nội dung trung tâm, quyết định quy mô, chi phí đầu tư và mức độ an toàn cho hạ du. Trên thế giới, nhiều tổ chức đã ban hành hướng dẫn đánh giá lũ và an toàn đập; đặc biệt, ICOLD đã tổng hợp các phương pháp tiếp cận hiện đại trong Bản tin 170, thể hiện xu hướng thiết kế dựa trên đánh giá rủi ro và quản lý bất định. Bài báo trình bày kết quả phân tích, so sánh giữa các tiêu chuẩn thuỷ văn công trình trong nước và quốc tế, nhằm làm rõ sự khác biệt về cơ sở khoa học – kỹ thuật và đề xuất định hướng cập nhật tiêu chuẩn Việt Nam theo hướng hội nhập, hiện đại và phát triển bền vững.

Từ khoá: Lũ thiết kế, an toàn đập, phân tích rủi ro

71

Đánh giá sự đồng nhất của chuỗi số liệu mưa giai đoạn 1983-2016 tỉnh Ninh Thuận (cũ)

 

Nguyễn Hồ Phương Thảo
Trường Đại học Thuỷ lợi

 

Bài báo này trình bày bốn phương pháp thống kê để tính toán định lượng và đánh giá sự đồng nhất của chuỗi số liệu mưa. Chuỗi số liệu mưa ngày thực đo giai đoạn 1983-2016 tại 6 trạm trên khu vực tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được sử dụng để minh chứng cho các phương pháp. Kết quả tính toán thể hiện rằng phần lớn giá trị của các phương pháp độ lệch lũy tích (Cd), thử Bayesian (Ba), tỷ số Worsley (Wo) thay đổi trong khoảng giới hạn cho phép. Giá trị của Cd thay đổi từ 0,377 đến 1,807, trong khi giá trị của Ba dao động từ 0,294 đến 5,813 và giá trị của Wo thay đổi từ 0 đến 10,577. Chuỗi số liệu mưa tại các trạm phần lớn thể hiện sự đồng nhất và do đó có thể được sử dụng cho đánh giá sự biến động của mưa cũng như là nguồn dữ liệu đầu vào cho các nghiên cứu liên quan. Phương pháp Cd, Ba và Wo cho kết quả đánh giá sự đồng nhất tương tự nhau và thể hiện sự khác biệt rõ rệt so với phương pháp tỷ số von Neumann.

Từ khoá: Ninh Thuận (cũ), Độ lệch lũy tích, thử Bayesian, tỷ số von Neumann, tỷ số Worsley.

79

Giải pháp sử dụng vật liệu xi măng đất làm kết cấu bảo vệ tuyến đê bối Nguyễn Huệ, phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cho phép nước tràn qua

 

Nguyễn Hữu Thảnh
Viện Kỹ thuật Công trình

Nguyễn Hữu Huế, Thân Văn Văn
Trường Đại học Thủy lợi

 

Hệ thống đê điều trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện có 340,68 km chiều dài đê sông, đê cửa sông và đê biển; trong đó, nhiều tuyến đê không bảo đảm an toàn chống lũ, bão theo tiêu chuẩn thiết kế hiện hành. Để đảm bảo an toàn cho nhân dân, ổn định phát triển kinh tế - xã hội trước thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 09/01/2026 về việc nâng cao năng lực và đảm bảo an toàn hệ thống đê điều trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Theo kế hoạch số 06 thì các tuyến đê xung yếu sẽ được đầu tư nâng cấp theo lộ trình đã phê duyệt. Tuy nhiên, đối với một số tuyến đê bối điển hình như tuyến đê bối Nguyễn Huệ, phường Đông Triều thì chưa có giải pháp đầu tư nâng cấp cụ thể để chủ động đưa nước vào trong bối khi có lũ từ báo động II trở lên theo quy định hiện hành. Trong nội dung nghiên cứu này, bài báo sẽ trình bày giải pháp sử dụng vật liệu xi măng đất làm kết cấu bảo vệ đê bối Nguyễn Huệ, cho phép nước tràn qua khi xảy ra lũ lớn.

Từ khoá: Đê điều Quảng Ninh; đê cho phép nước tràn qua; đê bối Nguyễn Huệ, xi măng đất.

89

Đánh giá thực trạng tài nguyên  nước tỉnh Bến Tre và đề xuất một số giải pháp bảo vệ nguồn nước

 

Trần Ký, Tôn Thất Lãng 
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường

 

Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Phía Đông tiếp giáp biển Đông với chiều dài đường biển khoảng 65 km; Phía Bắc giáp với tỉnh Tiền Giang; Phía Nam giáp với Trà Vinh; Phía Tây giáp với Vĩnh Long;Trung tâm của tỉnh Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 87 km về phía Tây qua tỉnh Tiền Giang và Long An.

Là tỉnh ven biển bị chi phối bởi triều biển Đông. Tác động của BĐKH-NBD cùng với việc khai thác quá mức ở thượng lưu gây yếu tố bất lợi như lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và các yếu tố thời tiết cực đoan đối với khu vực ven biển tỉnh Bến Tre nói riêng bị thiếu nước ngọt một cách nghiêm trọng, đặc biệt vào các tháng mùa khô, do lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 4÷6 % lượng mưa năm. Mặt khác tỉnh nằm ở cuối nguồn của sông Tiền, nơi thoát nước ra và là vùng bị ảnh hưởng mạnh thủy triều của biển Đông làm cho xâm nhập mặn sâu. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, vấn đề khai thác nước quá mức từ thượng lưu hiện nay, đã gây ra các yếu tố bất lợi và các yếu tố thời tiết cực đoan cho tài nguyên nước như  suy thoái, hạn hán, xâm nhập mặn, làm cho chất lượng nước của vùng đang ngày càng xấu đi. Bên cạnh những thiệt hại nghiêm trọng về con người và vật chất do lũ lụt gây ra, việc thiếu hụt nguồn nước ngọt vào mùa khô ở vùng nghiên cứu cũng đã và đang trở nên trầm trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

Bài viết đánh giá thực trạng thiếu hụt nguồn nước ngọt của vùng, nguyên nhân gây ra và phân tích các yếu tố tác động tới Tài nguyên nước, đề xuất một số giải pháp trước mắt và lâu dài để khắc phục tình trạng này nhằm giảm thiểu những tác động nêu trên, góp phần ổn định chính trị và an ninh nguồn nước cho tỉnh Bến Tre.

Từ khóa: Thực trạng tài nguyên nước, Bến Tre, đề xuất các giải pháp

103

Đánh giá mức độ ngập lụt hạ du do xả lũ hồ chứa nước Vực Tròn, Quảng Trị

Đỗ Xuân Khánh
Trường Đại học Thuỷ lợi

 

Ngập lụt hạ du do vận hành xả lũ hồ chứa là một trong những hiên tượng gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đặc biệt là tại các khu vực đồng bằng ven biển miền Trung, Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung đánh giá mức độ ngập lụt khu vực hạ du hồ Vực Tròn, tỉnh Quảng Trị, trong điều kiện vận hành xả lũ kết hợp với mưa hạ du và ảnh hưởng của thủy triều. Quá trình mô phỏng được thực hiện thông qua hệ thống mô hình MIKE, trong đó mô hình mưa – dòng chảy NAM được sử dụng để tính toán dòng chảy nhập lưu, còn mô hình MIKE FLOOD được áp dụng để mô phỏng ngập lụt hạ du. Thông số mô hình NAM được hiệu chỉnh và kiểm định dựa trên số liệu quan trắc tại trạm thủy văn Đồng Tâm, trong khi mô hình MIKE FLOOD được hiệu chỉnh và kiểm định bằng số liệu điều tra vết lũ trên thực địa. Các kịch bản ngập lụt được xây dựng tương ứng với các tần suất lũ khác nhau nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng về không gian và độ sâu ngập. Kết quả tính toán cho thấy diện tích và mức độ ngập lụt gia tăng rõ rệt khi điều kiện vận hành và các yếu tố bất lợi tăng lên, trong đó các khu vực địa hình thấp ven biển chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Phần lớn diện tích ngập tập trung ở các mức ngập nông đến trung bình (dưới 1m), song vẫn tồn tại các vùng ngập sâu có nguy cơ cao đối với an toàn con người. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ công tác vận hành hồ chứa, cảnh báo lũ và giảm thiểu rủi ro ngập lụt cho khu vực hạ du hồ Vực Tròn.

Từ khoá: Hồ Vực Tròn; ngập lụt hạ du; MIKE FLOOD; vận hành xả lũ; an toàn hạ du.

112

Xây dựng giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi phản ánh đầy đủ chi phí: nghiên cứu điển hình tại hệ thống thủy lợi sông Chu

 

Lê Văn Chính
Trường Đại học Thuỷ lợi

 

Bài báo trình bày quy trình và kết quả xác định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi phản ánh đầy đủ chi phí cho hệ thống thủy lợi sông Chu một hệ thống quy mô lớn, đa mục tiêu tại khu vực Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu áp dụng khung phương pháp 10 bước do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đề xuất và sử dụng số liệu thực tế từ báo cáo thí điểm xây dựng giá dịch vụ thuỷ lợi  tại hệ thống Sông Chu. Hai phương án giá được xây dựng gồm: (i) tính đúng, tính đủ chi phí; và (ii) chỉ tính chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M). Kết quả cho thấy giá tính đầy đủ chi phí khoảng 4,0 triệu đồng/ha, cao hơn đáng kể so với cơ chế cấp bù hiện hành. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải điều chỉnh cơ chế giá nhằm đảm bảo bền vững tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Từ khoá: Giá dịch vụ thủy lợi, hệ thống thuỷ lợi; thuỷ lợi phí, phân bổ chi phí, tính đúng tính đủ,

Ý kiến góp ý: