Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 96 năm 2026
22/09/2026THỂ LỆ VIẾT BÀIBài viết phải đảm bảo chưa công bố, đăng tải trên các Báo, Tạp chí, độ dài không quá 10 trang, được đánh máy vi tính theo phông Times New Roman, cỡ chữ 12, in trên khổ A4 kèm theo file hoặc gửi qua Email. Bài viết sử dụng tiếng Việt, kèm theo tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt và tiếng Anh (không quá 200 từ). Công thức được viết theo Equation Editor và đánh số thứ tự về bên phải. Các bản vẽ phải đúng quy định vẽ kỹ thuật, kích thước không quá 15 x 20cm. Các bài có bản đồ từng vùng hoặc cả nước cần vẽ theo mẫu chính xác, đúng theo quy cách hiện hành, các bản vẽ, biểu bảng phải đánh số thứ tự. Thứ tự sắp xếp bài báo: - Tên bài báo - Họ và tên tác giả, học hàm, học vị, cơ quan công tác - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Việt). - Tóm tắt nội dung (bằng tiếng Anh) - Nội dung bài báo. - Tài liệu tham khảo: đặt liền với bài và ghi thứ tự, số thứ tự được đặt trong [ ]. Trích dẫn tên đề tài công bố. |
Trang | Tên bài báo | Tác giả | Tóm tắt |
2 | Ứng dụng mô hình MIKE 11/21 để tối ưu hóa vận hành cụm cống Cái Lớn - Cái Bé trong kiểm soát mặn và giảm ngập | Phạm Văn Tùng Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung
| Nghiên cứu ứng dụng bộ mô hình MIKE 11/21, gồm MIKE 11 HD-AD, MIKE 11 NAM và MIKE 21 FM, để đánh giá và tối ưu hóa vận hành hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé trong kiểm soát mặn và giảm ngập vùng Bán đảo Cà Mau. Mô hình được xây dựng, hiệu chỉnh và kiểm định bằng chuỗi số liệu mực nước, lưu lượng, độ mặn, mưa và thủy triều giai đoạn 2013-2023. Kết quả cho thấy mô hình đạt độ tin cậy tốt, với hệ số Nash-Sutcliffe đối với mực nước đạt 0,82-0,94, đối với độ mặn đạt 0,70-0,88; sai số đỉnh mặn tại đa số trạm nhỏ hơn 10%. Các kịch bản mùa khô cho thấy vận hành một chiều kết hợp cửa sổ triều có thể giảm 20-40% độ mặn cực trị tại Gò Quao và Xẻo Quao, đồng thời đẩy ranh mặn 4 g/L lùi ra biển 3-5 km. Trong mùa mưa, vận hành cắt đỉnh triều và ưu tiên tiêu thoát qua Cái Bé giúp giảm mực nước 10-25 cm và rút ngắn thời gian ngập 4-6 giờ. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu vận hành liên vùng và điều hành theo thời gian thực. Từ khóa: MIKE 11/21; Cái Lớn - Cái Bé; kiểm soát mặn; giảm ngập; Bán đảo Cà Mau |
12 | Nghiên cứu diễn biến sạt lở bờ, bãi sông và công trình đê điều, thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tổng hợp dữ liệu đa nguồn
| Vũ Trung Hải, Phạm Thị Hồng Ngọc, Đặng Đình Phú, Nguyễn Tuấn Linh, Thân Văn Đón Nguyễn Tiếp Tân Lê Xuân Tâm
| Sạt lở bờ sông và mất ổn định công trình đê điều – thủy lợi đang là vấn đề nổi bật tại tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng khai thác cát và áp lực phát triển hạ tầng ven sông. Nghiên cứu này tổng hợp dữ liệu đa nguồn gồm khảo sát thực địa, ảnh UAV độ phân giải cao và ảnh viễn thám đa thời gian nhằm đánh giá hiện trạng, phân tích diễn biến và xác định các khu vực nguy cơ sạt lở. Kết quả cho thấy nhiều đoạn sông có xu thế xói lở mạnh, ảnh hưởng trực tiếp tới đê điều, bãi sông, khu dân cư và hạ tầng thủy lợi. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá diễn biến sạt lở bờ, bãi sông và các công trình đê điều, thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh – một khu vực có mật độ sông ngòi dày đặc và hệ thống công trình bảo vệ đóng vai trò cốt yếu trong an toàn đê điều. Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo tiến trình từ diện rộng đến chi tiết. Đầu tiên, dữ liệu viễn thám (Sentinel, Landsat, VNREDSat-1) được sử dụng để phân tích xu thế biến động đường bờ trong giai đoạn 2019–2024, giúp khoanh vùng các khu vực có nguy cơ cao. Tiếp theo, công nghệ UAV với kỹ thuật định vị tương đối động xử lý sau (PPK) và điểm khống chế mặt đất (GCP) được ứng dụng tại 30 vị trí trọng điểm để thành lập các mô hình số độ cao (DEM) và bình đồ ảnh trực giao có độ chính xác mặt phẳng và độ cao dưới 5cm. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện và phân loại chi tiết các hình thức sạt lở phổ biến tại Bắc Ninh, bao gồm: sạt lở chân đê, xói lở vỉa bờ sông và các vết nứt sụt lún trên mái đê (đặc biệt tại các tuyến sông Đuống, sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê). Số liệu thực tế cho thấy, việc kết hợp UAV cho phép phát hiện các biến dạng công trình ở quy mô milimet – điều mà ảnh vệ tinh truyền thống không thể thực hiện được. Đây là cơ sở khoa học giúp cơ quan quản lý tại Bắc Ninh chủ động trong việc lập kế hoạch duy tu, sửa chữa công trình thủy lợi mà còn đóng góp một quy trình chuẩn trong việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào công tác phòng chống thiên tai tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.. Từ khóa: Sạt lở bờ sông, Đê điều Bắc Ninh, Viễn thám, Công nghệ UAV, Dữ liệu đa nguồn, Biến động đường bờ. |
20 | Phân tích hiệu quả sử dụng nước cho trường hợp tối ưu cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong hệ thống thủy lợi nam Ninh Bình
| Đặng Minh Tuyến | Hiệu quả sử dụng nước là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá khai thác hệ thống thủy lợi, nhưng cách tiếp cận theo cây trồng đơn lẻ chưa phản ánh đầy đủ quan hệ giữa cơ cấu sản xuất, nguồn nước, đất đai, lao động và môi trường. Bài báo phân tích hiệu quả sử dụng nước cho trường hợp tối ưu cơ cấu sản xuất nông nghiệp của hệ thống thủy lợi Nam Ninh Bình trong kịch bản nguồn nước cơ sở (BASE). Mô hình MOFLP cấp hệ thống được sử dụng với bốn mục tiêu: lợi ích kinh tế ròng, sản lượng, lao động và áp lực thuốc bảo vệ thực vật; kết quả được kiểm tra khả thi theo 13 khu tưới để nhận diện ràng buộc nước cục bộ. Cách tiếp cận này cung cấp cơ sở định lượng hỗ trợ rà soát cơ cấu cây trồng, vận hành cấp nước và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống thủy lợi vùng triều. Từ khóa: Hiệu quả sử dụng nước; năng suất nước; tối ưu cơ cấu sản xuất nông nghiệp; MOFLP; hệ thống thủy lợi vùng triều; Nam Ninh Bình |
28 | Hiện trạng bồi lấp và đề xuất giải pháp chuyển cát | Trần Thanh Tùng, Trương Hồng Sơn
| Vùng duyên hải miền Trung sở hữu đội tàu cá và tàu đánh bắt xa bờ có quy mô đáng kể, với sản lượng khai thác đạt 776.000 tấn/năm, đóng góp vào sự phát triển kinh tế biển quốc gia. Tuy nhiên, hoạt động khai thác thủy sản đang gặp thách thức do tình trạng bồi lấp cửa sông, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận cảng cá và khu neo đậu tàu thuyền. Các giải pháp truyền thống như nạo vét luồng lạch chỉ mang tính ngắn hạn, đồng thời có thể làm tăng nguy cơ gây xói lở bờ biển lân cận nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Trong bối cảnh đó, công nghệ chuyển cát qua cửa sông, đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, được xem như một giải pháp tiềm năng hạn chế bồi lấp cửa sông, duy trì cân bằng bùn cát ven bờ. Hệ thống này hoạt động dựa trên nguyên tắc chuyển cát từ khu vực bồi tụ tới các khu vực thiếu hụt trầm tích, hoặc bãi biển lân cận, qua đó giảm bồi lấp cửa và hạn chế gián đoạn dòng vận chuyển trầm tích dọc bờ. Bài báo này tập trung phân tích hiện trạng và nguyên nhân, cơ chế bồi lấp tại các cửa sông ven biển miền Trung, tổng hợp và so sánh các mô hình chuyển cát đã được triển khai trên thế giới, làm cơ sở đề xuất giải pháp chuyển cát phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở miền Trung Việt Nam. Từ khoá: Bồi lấp, cửa sông, cảng cá, chuyển cát qua cửa, chống bồi lấp, miền Trung. |
37 | Phân vùng nguy cơ lũ quét tích hợp nguyên lý thủy văn lưu vực và trí tuệ nhân tạo: Nghiên cứu tại khu vực Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai
| Lê Văn Thìn Lê Anh Tuấn, Trần Việt Bách | Phân vùng nguy cơ lũ quét tại các khu vực miền núi thường sử dụng dữ liệu nội tại điểm (point-based) làm đầu vào cho mô hình AI, chưa phản ánh đầy đủ bản chất thủy văn của lũ quét – vốn là phản ứng dòng chảy từ toàn bộ lưu vực thượng nguồn. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp tích hợp nguyên lý lưu vực vào mô hình AI bằng bộ 20 đặc trưng thuộc bốn nhóm (địa hình, thủy văn, thực phủ, khí tượng), trong đó mỗi pixel được coi là cửa ra của một lưu vực con. Sáu mô hình AI (LightGBM, Random Forest, SVM, Logistic Regression, CNN, DNN) được huấn luyện và đánh giá tại khu vực Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai cho trận lũ 05/08/2023. Kết quả cho thấy LightGBM đạt độ chính xác thống kê cao nhất (95,24%), trong khi nhóm Học sâu (đặc biệt DNN) dù accuracy ~90%, lại thể hiện tính phù hợp vật lý và liên tục không gian tốt hơn – phản ánh đúng quy luật tập trung dòng chảy từ thượng nguồn về hạ lưu. Từ khóa: Lũ quét, trí tuệ nhân tạo, học máy, học sâu, phân vùng nguy cơ, nguyên lý lưu vực, Mù Cang Chải.
|
45 | Tổng quan nghiên cứu tích trữ nước trong tầng
| Phạm Thị Thu, Đặng Đình Phú, Phan Quang Thức, Lương Trần Thị Hân, Nguyễn Tuấn Linh, Đỗ Thị Thảo Nguyễn Tiếp Tân
| Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và suy giảm nguồn nước dưới đất, việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước theo hướng bền vững đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Một trong những giải pháp được nhiều quốc gia áp dụng là tích trữ nước trong các tầng chứa nước dưới đất (Managed Aquifer Recharge – MAR) nhằm bổ sung nguồn nước, ổn định mực nước, giảm suy thoái và nâng cao khả năng điều tiết nguồn nước theo thời gian. Khi được triển khai theo hướng đa mục tiêu, tích trữ nước trong tầng chứa nước không chỉ phục vụ cấp nước mà còn góp phần kiểm soát sụt lún, hạn chế xâm nhập mặn, cải thiện môi trường và hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn nước. Bài báo phân tích cơ sở khoa học, thực tiễn và vai trò của tích trữ nước dưới đất trong mô hình kinh tế tuần hoàn nước; đồng thời đề xuất định hướng quản lý và áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững. Từ khóa: Tích trữ nước dưới đất, tầng chứa nước, kinh tế tuần hoàn nước, quản lý tài nguyên nước, MAR. |
54 | Ứng dụng mạng nơ-ron nhân tạo dự báo xâm nhập mặn trên hệ thống sông Vàm Cỏ
| Võ Văn Tiền, Nguyễn Đăng Tính, Nguyễn Trịnh Chung Phạm Văn Tùng
| Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng tại các sông ven biển và vùng đồng bằng, đặc biệt trong mùa kiệt khi lưu lượng thượng nguồn giảm và tác động triều tăng. Hệ thống sông Vàm Cỏ chịu ảnh hưởng mạnh của triều biển Đông và suy giảm dòng chảy mùa kiệt, gây rủi ro cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt. Nghiên cứu này xây dựng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) để dự báo độ mặn và chiều dài xâm nhập mặn trên hệ thống sông Vàm Cỏ. Các biến đầu vào gồm lưu lượng tại Gò Dầu và Mộc Hóa, mực nước tại Bến Lức và Tân An, mực nước triều tại Vũng Tàu, lượng mưa tại Tân An và độ mặn hiện tại tại trạm dự báo. Mô hình ANN cấu trúc (7–10–6–6) được sử dụng để dự báo trước 1, 3 và 7 ngày; dữ liệu được chia thành tập huấn luyện (70%), kiểm định (15%) và kiểm tra (15%). Kết quả cho thấy ANN dự báo tốt độ mặn, đặc biệt ở thời hạn 1 và 3 ngày, trong khi sai số tăng ở thời hạn 7 ngày. Mô hình có thể hỗ trợ vận hành cống kiểm soát mặn, lấy nước tưới và cảnh báo xâm nhập mặn trên hệ thống sông Vàm Cỏ. Từ khóa: Xâm nhập mặn; Mạng nơ-ron nhân tạo; Dự báo mặn; Sông Vàm Cỏ; Sông chịu ảnh hưởng triều; Dự báo ngắn hạn; Quản lý tài nguyên nước. |
64 | Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện phương châm chủ động nước tại chỗ phục vụ bảo đảm an ninh nguồn nước cho xã biển bạch, tỉnh Cà Mau
| Hà Hải Dương, Nguyễn Minh Tiến, Trương Ngọc Hiển
| Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiện trạng tài nguyên nước, phân tích các thách thức về nguồn nước và đề xuất hệ thống giải pháp khoa học công nghệ thực hiện phương châm “chủ động nước tại chỗ” cho xã Biển Bạch, tỉnh Cà Mau. Trên cơ sở điều tra khảo sát thực địa, phân tích hiện trạng tài nguyên nước, đánh giá nhu cầu sử dụng nước và tính toán thiết kế một số mô hình kỹ thuật điển hình, nghiên cứu đã đề xuất hệ thống giải pháp theo bốn nhóm nội dung chính gồm: bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; thu trữ nước tại chỗ; quản lý và sử dụng nước hiệu quả; bảo vệ môi trường và hệ sinh thái nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc triển khai đồng bộ các giải pháp theo hướng chủ động nước tại chỗ có khả năng nâng cao đáng kể năng lực chống chịu của địa phương trước hạn hán, xâm nhập mặn và suy giảm nguồn nước, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu tại các vùng sinh thái ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Từ khóa: An ninh nguồn nước; Chủ động nước tại chỗ; Biến đổi khí hậu; Xâm nhập mặn; Cà Mau; Đồng bằng sông Cửu Long. |
74 | Phân tích an toàn đầu mối hồ chứa quặng đuôi
| Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Quang Hùng Khương Hải Quang Nguyễn Kiên Quyết
| Năm 2025, Việt Nam có khoảng 120 hồ chứa quặng đuôi (hồ thải bùn) đang vận hành, trong đó 50% hồ chứa quặng đuôi được xây dựng ở các tỉnh miền núi phía Bắc và tập trung nhiều ở 4 tỉnh cũ Yên Bái, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai và tỉnh Bắc Kạn cũ là nơi xây dựng nhiều hồ đập quặng đuôi nhất cả nước với 21 hồ. Trong những năm qua đã có nhiều sự cố nước tràn đỉnh gây vỡ đập đất của hồ chứa quặng đuôi làm ô nhiễm môi trường và tổn thất tài sản vùng hạ du hồ thải, trong đó nguyên nhân chính của các sự cố này là do các sai sót trong quá trình thiết kế, xây dựng, quản lý, giám sát hồ đập và hiện tượng biến đổi bất thường của khí hậu. Bài báo giới thiệu sơ bộ một quy trình đánh giá an toàn hệ thống hồ thải quặng đuôi theo lý thuyết ngẫu nhiên cấp độ II và ứng dụng bài toán để đánh giá độ tin cậy cho hệ thống hồ thải bùn số 2 của nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ tỉnh Đăk Nông cũ khi chịu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên. Từ khoá: Hồ thải bùn, độ tin cậy, hàm tin cậy, biến ngẫu nhiên, cơ chế sự cố. |
82 | Đánh giá biến động độ đục nước mặt trên sông tiền và sông hậu đoạn qua tỉnh An Giang và đề xuất giải pháp
| Nguyễn Hoàng Nhật
| Nghiên cứu nhằm đánh giá biến động độ đục nước mặt trên sông Tiền và sông Hậu đoạn chảy qua tỉnh An Giang từ tháng 1/2022 đến 12/2024. Thực hiện đo tại hiện trường thu thập tổng cộng 292 mẫu trong đó trên sông Tiền 145 mẫu (Chợ Mới), sông Hậu 147 mẫu (Hòa Bình) và xử lý số liệu bằng phương pháp phân tích thống kê. Kết quả cho thấy độ đục tăng cao trong giai đoạn mùa mưa và đạt giá trị cực đại khoảng 800 NTU tại Chợ Mới và 700 NTU tại Hòa Bình. Trong mùa khô độ đục duy trì ở mức thấp và ổn định. Dữ liệu phân bố không cân xứng, xuất hiện nhiều giá trị ngoại lai và ngoại lai cực trị. Kiểm định Mann–Whitney U độ đục giữa hai trạm không khác biệt có ý nghĩa thống kê thấp (p = 0,102), nhưng khác biệt giữa mùa khô và mùa mưa là có ý nghĩa rất cao (p < 0,001), qua đây khẳng định yếu tố mùa chi phối đến biến động độ đục. So sánh giá trị cực đại của các tháng mùa mưa ghi nhận dấu hiệu trễ pha của Hòa Bình so với Chợ Mới. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài báo đề xuất tăng cường giám sát độ đục, xây dựng kịch bản vận hành theo ngưỡng và tối ưu công đoạn lắng - lọc nhằm giảm áp lực cho hệ thống xử lý nước trong mùa mưa lũ. Các nghiên cứu tiếp theo dọc theo từng sông cần tăng số lượng vị trí lấy mẫu để làm rõ thêm cơ chế và tăng tính khách quan. Từ khóa: Độ đục; nước mặt; sông Tiền; sông Hậu; Chợ Mới; An Giang; xử lý nước cấp |
89 | Xây dựng mô hình cấu trúc địa chất 3D tỉnh An Giang phục vụ quản lý nước dưới đất và đánh giá nguy cơ sụt lún
| Nguyễn Thái Sơn Vũ Thị Hoài Thu Lê Tấn Đạt Triệu Ánh Ngọc | Nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc địa chất ba chiều (3D) cho tỉnh An Giang nhằm hỗ trợ quản lý nước dưới đất và đánh giá nguy cơ sụt lún. Cơ sở dữ liệu tích hợp gồm nhật ký hố khoan, bản đồ địa chất, mặt cắt địa vật lý, ảnh viễn thám và dữ liệu InSAR. Dữ liệu được chuẩn hóa trong môi trường GIS, liên kết địa tầng – thạch học, giải đoán đứt gãy và nội suy bằng RockWorks để tạo các bề mặt địa tầng đến độ sâu khoảng 100 m. Kết quả cho thấy lớp phủ Holocene biến đổi mạnh theo không gian, dày nhất ở dải trũng ven sông Hậu; các tầng chứa nước Pleistocene–Pliocene phân bố không đồng đều và bị chia cắt cục bộ bởi các cấu trúc phương Đông Bắc – Tây Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Đối chiếu với ba hồ sơ hố khoan kiểm chứng cho độ khớp trung bình trên 91%. Phân tích tích hợp với InSAR chỉ ra tốc độ lún thấp ở vùng Bảy Núi nhưng tăng mạnh ở dải đồng bằng phía Đông; chiều dày Holocene và tốc độ lún có tương quan thuận (R ≈ 0,56). Mô hình 3D là cơ sở hữu ích cho phân vùng khai thác nước dưới đất, thiết kế nền móng và nhận diện khu vực nhạy cảm với lún không đều tại An Giang. Từ khóa: Mô hình cấu trúc địa chất; RockWorks; nước dưới đất; sụt lún; An Giang |
98 | Nghiên cứu ứng xử cơ học của đất hạt thô
| Nguyễn Thế Điện | Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ứng xử cơ học của đất hạt thô thông qua thí nghiệm nén ba trục trong điều kiện thoát nước (CD). Các mẫu được chuẩn bị với các độ chặt tương đối khác nhau và chịu các mức áp suất nén ban đầu từ 50 đến 400 kPa nhằm đánh giá ảnh hưởng của trạng thái ban đầu đến đặc trưng ứng suất – biến dạng và biến đổi thể tích. Kết quả cho thấy đất rời có xu hướng co thể tích và hóa cứng dần, trong khi đất chặt thể hiện giãn nở và xuất hiện đỉnh ứng suất rõ rệt. Cường độ kháng cắt và độ cứng tăng theo áp suất nén. Ứng xử của đất phù hợp với lý thuyết trạng thái tới hạn, cung cấp cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình và ứng dụng trong thiết kế công trình Thủy lợi, Thủy điện,... Từ khóa: Đất hạt thô, nén ba trục thoát nước, cường độ kháng cắt, biến dạng thể tích. |
106 | Nghiên cứu chuyển vị ngang của hầm khi thi công qua vùng địa chất phức tạp
| Đào Văn Hưng
| Trong bối cảnh phát triển nhanh, mạnh của hệ thống hạ tầng giao thông tại Việt Nam, có nhiều công trình xuyên núi được xây dựng, nổi bật là tuyến cao tốc Bắc - Nam. Nhu cầu xây dựng hầm đường bộ trong điều kiện địa chất phức tạp ngày càng gia tăng. Nhiều dự án hầm đường bộ quy mô lớn đang được triển khai nhằm khắc phục các đoạn đèo dốc nguy hiểm, rút ngắn thời gian vận chuyển, nhưng phải đào qua vùng đứt gãy, đá nứt nẻ. Bài báo sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn và phần mềm Plaxis 3D mô phỏng tính toán quá trình đào hầm, để nghiên cứu chuyển vị ngang của hầm khi thi công qua vùng có địa chất phức tạp, đứt gãy, đá nứt nẻ. Kết quả tính toán cho thấy chất lượng khối đá và biện pháp thi công ảnh hưởng rất lớn đến chuyển vị ngang của hầm, cụ thể sử dụng phương pháp đào hầm có vách trung tâm qua vùng đứt gãy, đá nứt nẻ cho hiệu quả giảm biến dạng một cách rõ rệt. Từ khóa: Hầm, đứt gãy, chất lượng khối đá, chuyển vị ngang, phương pháp thi công |
112 | Ứng dụng đường cong rủi ro trong quản lý thiên tai
| Phạm Hồng Nga
| Đánh giá rủi ro do lũ lụt tại hạ lưu sông Vũ Gia – Thu Bồn hiện là một nhiệm vụ trọng điểm và cấp bách nhằm bảo vệ an toàn cộng đồng trước những diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp tại miền Trung Việt Nam. Nghiên cứu thực hiện đánh giá rủi ro lũ lụt đối với an toàn cộng đồng thông qua việc xây dựng đường cong rủi ro lũ lụt và xác định chỉ số tổn thất trung bình hàng năm (AAL). Công thức Penning-Rowsell cải tiến được áp dụng để phân tích tổn thất trực tiếp và gián tiếp đến con người tại vùng hạ lưu sông Vũ Gia – Thu Bồn, thuộc địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ). Bằng cách tích hợp mô hình thủy động lực học, dữ liệu ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa, bốn kịch bản ngập lụt với xác suất vượt ngưỡng (10%, 5%, 2% và 1%) đã được mô phỏng chi tiết. Kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ rủi ro đối với cộng đồng gia tăng phi tuyến tính và đặc biệt nghiêm trọng trong các kịch bản lũ tần suất thấp. Các chỉ số rủi ro bán định lượng được xác lập trong nghiên cứu này cung cấp luận cứ khoa học quan trọng, hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách phòng chống thiên tai và xây dựng các phương án ứng phó chiến lược dài hạn tại địa phương. Từ khóa: Tính dễ tổn thương xã hội, đường cong rủi ro lũ lụt, rủi ro lũ lụt trung bình hàng năm, tổn hại gián tiếp. |
Ý kiến góp ý:


