Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP về thực hiện một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước.
Nghị quyết tập trung vào các tình huống rủi ro cao như mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; ngập lụt diện rộng ở hạ du có nguy cơ gây thiệt hại lớn về người và tài sản; hoặc các tác động bất thường như động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế làm mất an toàn công trình. Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận được chuyển từ ứng phó sang chủ động phòng ngừa, thông qua việc điều hành hồ chứa theo kịch bản rủi ro thay vì chỉ tuân thủ quy trình cứng.
Theo đó, nguyên tắc vận hành hồ chứa phải tuân thủ đồng bộ các quy định về an toàn đập, phòng chống thiên tai và phòng thủ dân sự. Trọng tâm là ưu tiên sử dụng dung tích hữu ích để cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ hoặc đơn hồ trong mùa mưa, đặc biệt khi có dự báo xuất hiện mưa lũ lớn, cực đoan. Việc điều hành mực nước trước lũ cũng được yêu cầu linh hoạt theo các kịch bản cụ thể nhằm tăng tối đa dung tích phòng lũ, đồng thời cho phép sử dụng một phần dung tích từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế để giảm áp lực cho vùng hạ du.

Phân định rõ trách nhiệm trong vận hành hồ chứa, bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ tiến độ và rõ kết quả”. Ảnh: NNMT.
Một điểm mới quan trọng là yêu cầu phân định rõ trách nhiệm trong vận hành, bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ tiến độ và rõ kết quả”. Trong đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm chỉ đạo vận hành liên hồ trên lưu vực sông Hồng, còn các lưu vực khác do Chủ tịch UBND cấp tỉnh trực tiếp quyết định. Khi xuất hiện tình huống vượt thiết kế hoặc có nguy cơ mất an toàn, các cơ quan chuyên môn sẽ được huy động để xây dựng kịch bản vận hành khẩn cấp, hỗ trợ địa phương đưa ra quyết định kịp thời.
Yêu cầu siết chặt vận hành được đặt ra trong bối cảnh hệ thống hồ chứa vẫn tồn tại nhiều “lỗ hổng”. Cả nước hiện có khoảng 7.315 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 15 tỷ m³, nhưng chỉ 30% có phương án ứng phó khẩn cấp, 31% có quy trình vận hành và 9% được kiểm định an toàn. Hệ thống quan trắc chuyên dùng mới đạt 19%, trong khi chỉ 11% hồ có mốc giới bảo vệ và 411 hồ có bản đồ ngập lụt hạ du.
Không chỉ thiếu phương án, dữ liệu kỹ thuật cũng chưa đầy đủ khi chỉ khoảng 900 hồ có thông số tương đối hoàn chỉnh, còn lại thiếu thông tin quan trọng phục vụ vận hành. Đáng lo ngại, hệ thống cảnh báo ở nhiều nơi vẫn chủ yếu thực hiện thủ công, khó đáp ứng yêu cầu phản ứng nhanh trong điều kiện thời tiết cực đoan.
Thực tế này cho thấy khoảng cách lớn giữa yêu cầu vận hành an toàn theo hướng hiện đại và năng lực hạ tầng hiện có. Việc ưu tiên dung tích hồ để cắt lũ vì vậy không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là bước chuyển về tư duy quản lý từ bị động sang chủ động, từ vận hành theo quy trình sang vận hành theo rủi ro.
Nghị quyết 12/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, được kỳ vọng sẽ tạo khung hành động khẩn cấp để nâng cao an toàn đập, giảm thiểu rủi ro cho vùng hạ du trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan.
Theo Việt Anh/mae.gov.vn